Difference between revisions 7310150 and 7310154 on viwiki{{đang viết 2|{{User|TuanUt}}}} {{otheruses|Tân Thạnh}} '''Tân Thạnh''' là một huyện [[phía Tây]] của tỉnh [[Long An]], đây là huyện có diện tích trồng [[tràm]] lớn nhất tỉnh. Cách Thành phố [[Tân An]] 45 Km về phía Bắc theo [[Quốc lộ 62]]. Tân Thạnh nằm ở vùng sâu của Đồng Tháp Mười, hàng năm chịu ảnh hưởng nặng nề của lũ lụt. Trong phân vùng địa lý kinh tế của tỉnh Long An, Tân Thạnh thuộc tiểu vùng 3 (gồm Vĩnh Hưng, Tân Hưng , Mộc Hóa, Tân Thạnh ). (contracted; show full) :*Ảnh hưởng mặn : Mặn 4g/l trên sông Vàm Cỏ Tây bình quân nhiều năm chỉ ngang hoặc qua Tuyên Nhơn : 4 - 5 Km về phía thượng lưu. Song, vào các năm 1992, 1993 mặn đã ảnh hưởng sâu hơn và nồng độ mặn cũng cao hơn bình quân nhiều năm. Giới hạn mặn 1g/l đã qua đập Bình Châu (1992) và đến thị trấn Vĩnh Hưng (1993). Như vậy, độ mặn trên kênh rạch Vĩnh Hưng có tăng; song vẫn nhỏ hơn 4g/l (ngưỡng chịu đựng của các loại cây trồng) nên ít ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng. ==Tài nguyên== ⏎ ===Tài nguyên Đất=== Theo kết quả điều tra lập bản đồ đất tỷ lệ 1/25.000 năm 2000 của Phân viện Quy hoạch - TKNN cho thấy: Toàn huyện có 2 nhóm đất với 6 đơn vị chú giải bản đồ đất; trong đó: nhóm đất xám có diện tích : 31.526 ha (chiếm 81,99% DTTN) và nhóm đất phèn : 5.980 ha (chiếm 15,55% DTTN). Như vậy, 100% diện tích đất thuộc loại ''đất có vấn đề'', đây là một hạn chế của huyện Vĩnh Hưng. Tổng hợp diện tích các nhóm và loại đất ở huyện Vĩnh Hưng cò thể phân loại như sau: ====Nhóm đất xám==== Diện tích : 31.526 ha, chiếm 81,99% DTTN, hình thành các giồng cao phân bố ở hầu hết các xã trong huyện. Đất xám được hình thành trên vật liệu phù sa cổ nên có thành phần cơ giới nhẹ (thịt nhẹ, thịt pha cát), độ phì thấp, nhất là ở các đỉnh giồng đã có biểu hiện bạc màu (nghèo dinh dưỡng). Để sử dụng đất xám cần chú ý 3 vấn đề : dinh dưỡng, tầng kết von và mức độ gley để trồng chuyên lúa hoặc luân canh lúa với cây trồng cạn. ====Nhóm đất phèn==== Nhóm đất phèn có diện tích : 5.980 ha, chiếm 15,55% DTTN. Đất phèn có trị số pH rất thấp và hàm lượng SO4-- cao (0,15 - 0,25%), đặc biệt là các Ion Fe++ và Al+++ dễ gây độc hại cho cây trồng. Vấn đề sử dụng đất phèn trong sản xuất nông nghiệp phụ thuộc chặt chẽ vào khả năng cung cấp nước ngọt trong mùa khô. Đất phèn phân bố chủ yếu ở các xã: Vĩnh Thuận, Vĩnh Trị, Thái Trị, Vĩnh Bình. ===Địa chất=== Đất đai của huyện Vĩnh Hưng hình thành từ hai loại trầm tích : Trầm tích phù sa non trẻ (Holocene) và trầm tích phù sa cổ (Pleistocene); trong đó chủ yếu là trầm tích phù sa cổ (Pleistocene). :*Mẫu chất phù sa cổ bao trùm khoảng 84% DTTN nhưng đã bị trầm tích Holocene phủ trùm lên một diện tích không nhỏ. Mẫu chất này có tầng dày từ 3 - 5m, cấp hạt thường thô, tạo cho đất có cấp hạt cát là chủ yếu. Nên phần lớn đất hình thành trên phù sa cổ thuộc nhóm đất xám bị rửa trôi, chua, hoạt tính thấp và bị nhiễm phèn ngoại lai. :*Trầm tích Holocene bao phủ khoảng 14% diện tích tự nhiên của huyện, nó phủ trùm lên trầm tích phù sa cổ. Đặc trưng cơ bản của đơn vị trầm tích này là sự có mặt của Sulfidic, vật liệu chủ yếu hình thành đất phèn. :*Trầm tích không phân chia khoảng 2% diện tích tự nhiên. Do vậy, khi xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng cần tính toán đầu tư đảm bảo độ ổn định bền vững. ===Tài nguyên rừng=== Năm 1995 có 3.035 ha rừng, trong đó hầu hết là tràm cừ; đến năm 2001 diện tích rừng tăng lên 3.933 ha (tỷ lệ che phủ 11,47%) kể cả cây lâu năm và vườn tạp, phần lớn rừng trồng từ trước năm 1995 nên trữ lượng khá. Nguồn tài nguyên động vật dưới tán rừng đã dần được phục hồi, đây là thành quả đáng ghi nhận của chương trình 773/TTg và 661, đã góp phần sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên cũng như khôi phục hệ sinh thái vốn có của vùng đất phèn. ===Tài nguyên thủy sản=== Qua điều tra của Viện Nghiên cứu Thủy sản II, có nhận xét : Các thủy vực ở huyện Vĩnh Hưng có những nhóm loài đặc trưng như : tảo lục, tảo bánh xe, côn trùng thủy sinh, nhóm tôm cá nước ngọt. Thủy sinh vật có đến hơn 330 loài, gồm 180 loài tảo, 90 loài động vật nổi, 60 loài động vật đáy. Trên sông Vàm Cỏ Tây có hơn : 50 loài cá, 9 loài tôm; trong đó, cá đồng và tôm càng xanh có giá trị kinh tế; song sản lượng không lớn. Ngoài ra, do môi trường nước nội đồng ngày càng được ngọt hóa, độ chua và thời gian ảnh hưởng chua phèn giảm, tạo điều kiện để các loài thủy sản về cư trú và phát triển, mở ra hướng đi trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng - vật nuôi. ===Tài nguyên khoáng sản=== Theo các tài liệu điều tra địa chất thổ nhưỡng, trên địa bàn huyện Vĩnh Hưng, khoáng sản đặc trưng là sét gạch ngói nguồn gốc hỗn hợp sông - đầm lầy, sông - biển tuổi Holoxen. Mức độ điều tra, đánh giá về khoáng sản ở Vĩnh Hưng còn rất sơ lược, hầu như mới chỉ khảo sát mỏ sét gạch ngói với mức độ đánh giá về chất lượng mỏ sét : Cát (>0,1 mm) 9%, bột (0,1 - 0,01 mm) 21%, sét (<0,01 mm) 80%, chỉ số dẻo 24,4, độ co gió 7,5%, cường độ kháng nén (sau khi nung ở 950oC) : 121 kg/cm2, quy mô vừa với cấp trữ lượng P = 4.657 triệu m3. Với khoáng sản này, Vĩnh Hưng có thể phát triển mạnh công nghiệp sản xuất gạch ngói, phục vụ cho xây dựng trên địa bàn huyện, tạo thêm việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. ==Chú thích== {{tham khảo}} {{Các huyện thị Long An}} {{Huyện thị Đồng bằng sông Cửu Long}} [[Thể loại:Huyện Long An]] [[en:Tan Thanh District, Long An]] All content in the above text box is licensed under the Creative Commons Attribution-ShareAlike license Version 4 and was originally sourced from https://vi.wikipedia.org/w/index.php?diff=prev&oldid=7310154.
![]() ![]() This site is not affiliated with or endorsed in any way by the Wikimedia Foundation or any of its affiliates. In fact, we fucking despise them.
|