Difference between revisions 7370646 and 7370654 on viwiki'''1. Sơ lược lịch sử:''' Theo 1 số thông tin va nghiên cứu thì dòng họ Biện có nguồn gốc từ Trung Quốc di cư sang Việt Nam từ thế kỉ 13 - tức là khoảng thời gian từ năm 1201 đến 1300. Theo sử sách ghi lại như sau: "Người Mông Cổ gồm nhiều bộ lạc, sống bằng nghề chăn nuôi, săn bắn chiếm cứ ở vùng đồng cỏ rộng lớn thuộc miền Bắc Trung Quốc. Cuối thế kỷ XII, Mông Cổ bước vào xã hội có giai cấp, thủ lĩnh một bộ lạc tên Thiết Mộc Chân có công tập hợp các bộ tộc và thống nhất Mông Cổ. Ông là người có tài năng đặc sắc về tổ chức và chỉ huy quân sự nên thành lập một đạo kỵ binh hùng mạnh. Năm 1206 ông được hội nghị quý tộc bầu làm đại hãn - có nghĩa vua lớn của Mông Cổ lấy hiệu là Cingis Khan hay Gengis Khan được lịch sử Trung Quốc gọi là Thành Cát Tư Hãn. Ngay sau khi lên cầm quyền, Khan đã có những đội kỵ binh thiện chiến nên tích cực chuẩn bị chinh phục các nước chung quanh, mở rộng bờ cõi ra bên ngoài, hình thành nên một tư tưởng “bành trướng” kiểu thực dân, đế quốc sau này. Năm 1209, Mông Cổ tấn công nhà Tây Hạ - khu vực tỉnh Sơn Tây – Trung Quốc sau này, vua nước này phải nộp con gái xin hàng. Năm 1211, Thành Cát Tư Hãn đem quân tấn công nước Kim - khu vực phía Bắc sông Hoàng Hà - Trung Quốc. Cả một vùng rộng lớn dài hơn ngàn dặm dọc theo hai bờ sông Hoàng Hà, phía Bắc Trung Quốc bị đánh phá, cướp bóc và tàn sát. Năm 1214, quân Mông Cổ vây Trung Đô - Bắc Kinh sau này, nhà Kim phải cầu hòa nhưng năm sau, Mông Cổ lại tiếp tục đánh chiếm Trung Đô, đuổi quân Kim chạy dài xuống phía nam sông Hoàng Hà. Vùng đất phía bắc Hoàng Hà được sáp nhập vào Mông Cổ. Năm 1218, mở đầu đánh sang phía Tây và chỉ trong vòng 7 năm, quân Mông Cổ đã lần lượt chiếm đóng toàn bộ vùng Trung Á và khu vực sông Đơ-nhi-ép ở Đông Âu. Năm 1226, Mông Cổ quay lại đánh Tây Hạ và chỉ một năm sau, Tây Hạ bị diệt vong. Lúc này Thành Cát Tư Hãn bị bệnh qua đời nhưng bước chân xâm lăng bành trước vẫn được những người thừa kế tiếp tục. Năm 1234, Mông Cổ hợp tác với Nam Tống đánh Kim và nước này bị diệt vong nhưng hai bên lại mâu thuẫn nên tới năm 1251, sau khi giành được ngôi đại hãn, Hốt Tất Liệt mở đường vòng xuống phía Tây Nam tiêu diệt nước Đại Lý ở Vân Nam năm 1253. Sau đó tiến đánh Thổ Phồn và Đại Việt. Hốt Tất Liệt bị đại bại ở Đại Việt. Đây là thất bại đầu tiên của Mông Cổ. Năm 1258, Mông Cổ quay lại đánh Nam Tống thắng lợi. Năm 1260, Mông Cổ đã chiếm trọn Trung Quốc nên Hốt Tất Liệt bắt chước các triều đại phong kiến Trung Quốc lên ngôi vua xưng là hoàng đế đặt tên nước là Nguyên năm 1271. Như vậy, sau khi tiêu diệt Hạ, Kim và Nam Tống nhà Nguyên đã thiết lập được nền thống trị trên đất nước Trung Quốc bao la. Khi nắm quyền cai trị thiên hạ, nhà Nguyên bắt chước bộ máy các triều đình phong kiến cũ, thi hành chính sách áp bức bóc lột phân chia bốn giai cấp hết sức tàn nhẫn, trong đó người Mông Cổ được tự do ưu tiên như khi bị tội giết người thì người Mông Cổ chỉ bị phạt bằng gậy và đưa lên biên giới phía Bắc xung vào quân đội, còn người Hán và các dân tộc khác bị xử tử. Người Mông Cổ cầm quyền thực hiện chính sách tàn bạo là giết sạch, cướp sạch, đốt sạch nên nhiều vùng ờ Hoa Bắc, Hoa Trung đều bị bỏ hoang, triều đình lấy đem chia cho quan chức Mông Cổ. Dần dần Trung Quốc bị đồng hóa với Mông Cổ, triều Nguyên trở thành kẻ chinh phục ngoại tộc. Trong thời kỳ này, xã hội Trung Quốc tồn tại mâu thuẫn chủ yếu dân tộc và giai cấp. Do đó, trong suốt thời kỳ đô hộ của nhà Nguyên – Mông Cổ, nhân dân Trung Quốc, đặc biệt Hán tộc diễn ra nhiều phong trào nổi dậy để chống lại nhằm giải phóng đất nước. Tới năm 1367, lực lượng nghĩa quân của Chu Nguyên Chương bắt đầu chiến thắng Mông Cổ ở nhiều nơi và truyền hịch nêu rõ khẩu hiệu “đánh giặc Hồ, khôi phục Trung Quốc, cứu dân tộc Hán”. Tới năm 1368, Chu Nguyên Chương lên ngôi hoàng đế đặt tên nước là Minh, hiệu là Minh Thái Tổ, chấm dứt sự thống trị của Nguyên – Mông Cổ nhưng tư tưởng đại hãn, bành trướng, tàn ác đã thống trị trong các quan chức cầm quyền mang tính di truyền.. Minh Thành Tổ thi hành chính sách bành trướng với đường lối “viễn giao, cận công” - bang giao với nước xa, đánh chiếm nước gần và “dĩ Di trị Di” - Lợi dụng dân man rợ cai trị dân man rợ nên có 5 lần đưa quân lên phía Bắc đánh chiếm vùng đất của Tác-Ta, Ôi Rát thuộc Mông Cổ cố cựu. Kinh đô chuyển đến Bắc Kinh và đưa quân xuống phía nam xâm lược Đại Việt vào những năm 1406 nhưng thất bại do cuộc khởi nghĩa 10 năm của Lê Lợi." Cũng trong thời kì này lần lượt các tộc họ lớn nhỏ khác của Trung Quốc di cư sang các nước khác trong đó có Việt Nam. Cũng chính từ đây thành lập nên tộc họ Biện. '''2. Sơ lược các nhân vật lớn của Trung Quốc mà sử sách còn lưu lại:''' '''+ Biện Hỉ:''' Biện Hỉ là một nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử Tam Quốc diễn nghĩa của nhà văn La Quán Trung. Trong tiểu thuyết này, Biện Hỉ được xây dựng là một tướng trấn giữ cửa quan Nghi Thuỷ của thừa tướng Tào Tháo. Sau này vì có âm mưu cản trở Quan Vũ trong việc tìm về với Lưu Bị nên đã bị ông này giết. Biện Hỉ được giới thiệu trong tác phẩm Tam Quốc diễn nghĩa vào hồi thứ 27, theo đó ông được mô tả là người ở Tinh Châu, giỏi dùng dùi lưu tinh, phi trùy và trước đây nguyên là dư đảng của giặc Khăn Vàng về sau theo Tào Tháo, được Tháo sai giữ Nghi Thuỷ quan - thuộc địa phận tỉnh Hà Nam ngày nay. Ông sau đó đã bị Quan Vũ giết vì âm mưu ám sát ông này. Năm 200, sau khi chém Nhan Lương, trừ Văn Xú cho Tào Tháo và nhận được tin của Lưu Bị, Quan Vũ từ biệt Tào Tháo để đi về phía Bắc. Vì vội vàng nên không xin Công lệnh - Giấy đi đường nên đã phải bất đắc dĩ chém tướng Khổng Tú ở cửa Đông Linh và Hàn Phúc ở Mạnh Tân. Biện Hỷ nghe tin Quan Công sắp đến, lập tức có âm mưu ám hại, ông ta cho mai phục hơn 200 đao phủ ở trong ngôi chùa Trấn Quốc, dặn quân gõ chén làm hiệu, đồng loạt xông ra giết Quan Vũ. Đồng thời ông ta chào đón Quan Vũ rất nồng nhiệt. Tâng bốc Quan Vũ, giả vờ tán thành việc ông này giết 2 tướng trước đó. Sau đó Biện Hỉ mời Quan Vũ vào chùa Trấn Quốc dự tiệc để ám hại. Nhưng một sự việc ngoài dự tính của Biện Hỉ là Trụ trì ngôi chùa này là người cùng làng với Quan Công, pháp danh là Phổ Tĩnh. Phổ Tĩnh đã biết mưu Biện Hỷ, và báo trước cho Quan Vũ. Biện Hỷ mời Quan Công lên ngồi trên pháp đường ăn tiệc. Quan Vũ chất vấn và phát hiện có mai phục liền ra tay chém giết, quân mai phục chạy tan hết cả. Biện Hỷ chạy xuống thềm rồi chạy quanh hành lang định tẩu thoát. Quan Vũ bỏ gươm, cầm long đao đuổi chém. Biện Hỷ ngầm dùng phi truỳ ném Quan Vũ nhưng bị gạt đi, Quan Vũ sấn vào chém một nhát, Biện Hỷ đứt làm hai khúc. '''+ Biện Phu Nhân:''' Biện phu nhân sinh tháng 1 năm 160 – mất 9 tháng 7 năm 230 - được gọi là Vũ Tuyên hoàng hậu là vợ Tào Tháo – người đặt cơ sở hình thành nhà Tào Ngụy thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc. Biện thị không rõ tên thật, vốn là người huyện Khai Dương, quận Lang Nha. Bà xuất thân là một kỹ nữ, lưu lạc tới huyện Tiêu nước Bái. Năm 20 tuổi, bà được gả cho Tào Tháo làm vợ thứ hai. Lúc đó Tào Tháo đang làm huyện lệnh huyện Đốn Khâu. Bà lần lượt sinh ra 4 người con trai cho Tào Tháo là Tào Phi, Tào Chương, Tào Thực và Tào Hùng. Biện phu nhân là người có bản lĩnh. Năm 190, bà 31 tuổi. Tào Tháo khi đó trốn chạy khỏi chỗ Đổng Trác, có tin đồn đại Tào Tháo đã chết. Mọi người trong nhà họ Tào đều lo lắng hoảng loạn. Riêng Biện phu nhân vẫn bình tĩnh, bà không tin vội vào lời đồn đó và khuyên mọi người không nên quá lo sợ. Quả nhiên sau đó Tào Tháo trở về. Khi biết chuyện, Tào Tháo rất khâm phục bà. Vợ cả Tào Tháo là Đinh thị, sinh được con trai là Tào Tu. Sau khi Tào Tu chết, Đinh thị thường gây gổ với Tào Tháo và bỏ về nhà mẹ đẻ. Nhiều lần Tào Tháo xuống nước, đến tận nhà xin lỗi và muốn đón về, Đinh thị vẫn không chịu. Biện thị thường nhân lúc Tào Tháo không có nhà, đón Đinh thị về khoản đãi chu đáo. Khi Tào Tháo sắp về, bà thấy Đinh thị không chịu làm lành với Tào Tháo, lại tiễn về nhà ngoại. Ngoài Tào Tu, Đinh thị còn có một người con gái, vẫn ở lại nhà Tào Tháo. Biện thị giúp Tào Tháo nuôi dạy người con gái tử tế, rồi khi trưởng thành mang gả cho con trai thứ 2 của Hạ Hầu Đôn là Hạ Hầu Mậu. Tam Quốc diễn nghĩa kể rằng Hạ Hầu Mậu là con của Hạ Hầu Uyên Năm 216, Tào Tháo tự xưng là Ngụy vương. Năm 219, Biện phu nhân được phong là vương hậu nước Ngụy. Đầu năm 220, Tào Tháo mất, Tào Phi lên thay ngôi Ngụy vương, Biện thị trở thành vương thái hậu. Tháng 10 năm 220, Tào Phi giành ngôi của Hán Hiến Đế, xưng làm hoàng đế, Biện thị trở thành Biện thái hậu – thái hậu đầu tiên của nhà Tào Ngụy. Trong 4 người con của Biện thái hậu, người con lớn nhất là Tào Phi là Ngụy Văn Đế, người con thứ 2 là Tào Chương là viên tướng có tài trong quân đội họ Tào, người con thứ 3 là Tào Thực nổi tiếng về văn thơ; người con thứ 4 là Tào Hùng chết sớm. Cuối đời, Biện thái hậu chứng kiến cảnh bất hòa giữa 3 người con trai, chủ yếu là sự chèn ép các em của Tào Phi. Tào Chương tuy được phong vương nhưng không lâu sau bị triệu vào kinh thành Lạc Dương và tới năm 223 thì chết một cách đột ngột. Sách Ngụy Tấn thế thuyết cho rằng khi Tào Chương cùng Tào Phi đánh cờ trong lầu của Biện thái hậu, bị Tào Phi cho ăn táo có độc. Người hầu mang nước đến cho Tào Chương uống bị Tào Phi sai đập vỡ bầu nước, Biện thái hậu vội đi chân không chạy ra giếng múc nước cho con thứ, nhưng không tìm được gàu múc. Vì vậy Tào Chương trúng độc qua đời. Tào Thực cũng bị Tào Phi giáng tước. Sau đó được thăng lên tước vương nhưng cũng bị người của Tào Phi giám sát chặt chẽ. Năm 226, Tào Phi qua đời khi mới 40 tuổi, con là Tào Tuấn lên nối ngôi, tức là Ngụy Minh Đế. Biện thái hậu được tôn là Thái hoàng thái hậu. Bà đề nghị cháu nội Tào Tuấn quan tâm tới người con út của Tào Tháo và người vợ thứ là Triệu cơ, tên là Tào Mậu -tức là chú của Tào Tuấn. Ngụy Minh Đế bèn phong cho Tào Mậu làm Liêu Thành công, sau đó thăng lên Liêu Thành vương. Năm 230, Biện thái hoàng thái hậu qua đời tại kinh thành Lạc Dương, thọ 71 tuổi. Bà được truy tôn là Vũ Tuyên hoàng hậu và hợp táng với Tào Tháo - được truy tôn là Ngụy Vũ Đế.{{Vi phạm bản quyền 2 (nguồn) |ngày = 24 |tháng = 06 |năm = 2012 |1 = http://newvietart.com/index4.1188.html |2 = |3 = |4 = |5 = }} All content in the above text box is licensed under the Creative Commons Attribution-ShareAlike license Version 4 and was originally sourced from https://vi.wikipedia.org/w/index.php?diff=prev&oldid=7370654.
![]() ![]() This site is not affiliated with or endorsed in any way by the Wikimedia Foundation or any of its affiliates. In fact, we fucking despise them.
|