Revision 20630892 of "Elaine Paige" on viwiki

{{chất lượng dịch}}
{{Infobox musical artist 
| Name  = Elaine Paige
| Img  = Elaine Paige Annie Skates.jpg
| Img_capt = Elaine Paige
| Img_size = 180px
| Landscape = 
| Background  = solo_singer
| Birth_name  = Elaine Mary Bickerstaff<ref name="newnorma">Gans, Andrew. [http://www.playbill.com/celebritybuzz/article/65167.html DIVA TALK: Meet Broadway's New Norma, Elaine Paige]. ''[[Playbill]]'', [[1996-09-11]]. Truy cập [[2008-02-24]].</ref>
| Alias  = 
| Born  = {{birth date and age|1948|3|5|df=yes}}
| Died  = 
| Origin  = [[Barnet]], [[Hertfordshire]], [[Anh]]
| Instrument  = 
| Genre  = 
| Occupation  = [[ca sĩ]], [[diễn viên]]
| Years_active = 
| Label  = 
| Associated_acts = 
| URL  = 
}}
'''Elaine Paige''' [[Huân chương Đế quốc Anh|OBE]] (tên con gái '''Elaine Bickerstaff''';<ref name="values">Fox, Sue. [http://www.timesonline.co.uk/tol/life_and_style/article423487.ece Relative Values: Elaine Paige, singer, and her sister, Marion]. ''[[The Times]]'', ngày 23 tháng 5 năm 2004. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.</ref> sinh ngày [[5 tháng 3]] năm [[1948]]) là một ca sĩ kiêm diễn viên người Anh, nổi tiếng nhất với thể loại [[opera|nhạc kịch]]. Paige lớn lên tại [[Barnet]], Bắc London và đã học trường sân khấu Aida Foster. Cô biểu diễn chuyên nghiệp lần đầu vào năm 1964. Lần xuất hiện lần đầu tiên ở [[nhà hát West End]] vào năm 1968 trong tác phẩm ''[[Hair]]''.

Sau các vai diễn nhỏ, Paige được chọn đóng vai [[Evita|Eva Perón]] trong tác phẩm đầu tiên ''[[Evita]]'', vai diễn mang lại danh tiếng cho cô năm 1978. Với vai diễn này, cô giành được [[Giải Laurence Olivier]] cho diễn xuất nhạc kịch trong năm. Năm 1981, cô đã khởi đầu vai [[Grizabella]] trong tác phẩm ''[[Cats]]'', và lọt vào bảng xếp hạng Top 10 hit với bài "[[Memory]]", một bài hát trong vở diễn của mình. Năm 1985, cô phát hành "[[I Know Him So Well]]" với [[Barbara Dickson]] trích ra từ vở nhạc kịch [[Chess]]; Cho tới nay, đây vẫn là bản thu bán chạy nhất của một cặp song ca nữ. Sau đó, Paige đã tham gia diễn trong vở ''[[Chess]]'', sau đó là một vai chính trong [[Anything Goes]], tác phẩm này cũng do cô đồng sản xuất. Paige diễn lần đầu trên [[sân khấu Broadway]] trong vở ''[[Sunset Boulevard]]'' vào năm 1996, với vai chính [[Norma Desmond]]. Cô đã đóng vai trong vở ''[[The King and I]]'' từ năm 2000 đến 2001, và sáu năm sau cô đã quay trở lại [[sân khấu West End]] trong vở ''[[The Drowsy Chaperone]]''. Cô cũng tham gia làm phim và các chương trình truyền hình.

Bên cạnh việc năm lần được đề cử cho [[Giải Laurence Olivier]], cô còn đạt được giải thưởng khác cho các vai diễn của mình và cô còn được gọi là "Đệ nhất phu nhân của nền nhạc kịch vương quốc Anh". Paige cũng đã phát hành 20 album đơn, trong đó có 8 album vàng và 4 album bạch kim. Cô còn nổi tiếng nhờ 7 album diễn xuất và các chuyên lưu diễn đi khắp nơi trên thế giới. Kể từ năm 2004, cô bắt đầu dẫn chương trình "Chủ nhật cùng Elaine Paige" trên sóng phát thanh [[BBC Radio 2]].

== Tiểu sử ==
Paige lớn lên ở [[Barnet]], [[Bắc Luân Đôn|Bắc London]], nơi bố cô hành nghề môi giới bất động sản và mẹ cô là một thợ làm mũ.<ref name="values"/> Mẹ cô đã từng là một ca sĩ khi còn trẻ, và bố cô từng là một tay trống nghiệp dư.<ref name="newnorma">Gans, Andrew. [http://www.playbill.com/news/article/print/65167?id=65167 Diva Talk: Meet Broadway's New Norma, Elaine Paige]. ''[[Playbill]]'', ngày 11 tháng 9 năm 1996. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.</ref> Paige cao không quá 5 feet (1,5 m), điều mà cô cho rằng chính là nguyên nhân khiến cho cô đã để mất nhiêu vai diễn chính.<ref name="millionaire">[http://www.express.co.uk/posts/view/9851/Elaine-is-a-little-cross Elaine is a little cross]. ''[[The Daily Express]]'', ngày 14 tháng 6 năm 2007. Lấy lại ngày 21 tháng 1 năm 2007.</ref> Ước mơ sự nghiệp là trở thành một tay vợt tennis chuyên nghiệp, điều mà cô hiệu trưởng của Paige lúc đó đã khuyên rằng "họ sẽ không bao giờ thấy em ở lên lưới";<ref name="scotsman">Copstick, Kate. [http://living.scotsman.com/features/A-new-Paige.2820316.jp A new Paige]. ''[[The Scotsman]]'', ngày 21 tháng 10 năm 2006. Lấy lại ngày 18 tháng 1 năm 2008.</ref> tuy vậy Paige vẫn tiếp tục chơi tennis và cô coi môn thể thao đó như một trong những niềm đam mê của cô.<ref name="abcpaige">[http://www.abc.net.au/queensland/stories/s1478589.htm Actress and singer Elaine Paige]. [[abc.net.au]], ngày 11 tháng 10 năm 2005. Lấy lại ngày 7 tháng 1 năm 2008.</ref>

Năm 14 tuổi, Paige được nghe nhạc phim ''[[West Side Story]]'', điều đó đã đánh thức khát khao muốn trở thành một diễn viên nhạc kịch trong cô.<ref name="artist">Barnett, Laura. [http://arts.guardian.co.uk/theatre/drama/story/0,,2085160,00.html Portrait of the artist: Elaine Paige, actor]. ''The Guardian'', ngày 22 thasng5 năm 2007. Lấy lại ngày 7 tháng 1 năm 2008.</ref> Khả năng âm nhạc của Paige được khuyến khích bởi giáo viên dạy nhạc của cô lúc đó, Ann Hill.<ref name="abcpaige"/> Vai diễn đầu tiên của Paige trên sân khấu là vai Susanna trong vở kịch ở trường dựng lại tác phẩm ''[[The Marriage of Figaro]]'' của [[Wolfgang Amadeus Mozart|Mozart]],<ref name="lupus">[http://www.lupus.org.uk/article.php?i=159 Angie Davidson Interviews Elaine Paige]. lupus.org.uk. Lấy lại ngày 10 tháng 3 năm 2008.</ref> và sau đó là các vai diễn trong "cậu bé Mozart" và vị trí đơn ca trong ''[[Messiah]]'' của [[George Frideric Handel|Handel]]<ref name="newnorma"/> "một công việc khó khăn đối với một đứa trẻ".<ref name="abcpaige"/> Cha cô đề nghị cô theo học ở một trường kịch,<ref name="newnorma"/> nên cô theo học trường sân khấu Aida Foster.<ref name="values"/> Sau khi tốt nghiệp, công việc đầu tiên của cô là thiết kế quần áo cho trẻ em tại [[hội chợ Ideal Home]].<ref name="values"/>
 
== Sự nghiệp ==
=== Giai đoạn đầu – 1968-1980: ra mắt lần đầu ở West End và ''Evita'' ===

Paige biểu diễn chuyên nghiệp lần đầu tiên trên sân khấu trong quá trình lưu diễn quanh Vương quốc Anh với vở nhạc kịch ''[[The Roar of the Greasepaint—the Smell of the Crowd]]'' của [[Anthony Newley]]/[[Leslie Bricusse]] năm 1964,<ref name="newnorma"/> với vai một đứa trẻ vụng về người Trung Quốc.<ref name="lupus"/> Ở tuổi 20, Paige ra mắt lần đầu ở [[West End của Luân Đôn|West End]] trong vở '' [[Hair]]''<ref name="thestageturning">Shenton, Mark. [http://www.thestage.co.uk/features/feature.php/5548 Turning another Paige - Elaine Paige]. ''[[The Stage]]'', ngày 10 tháng 12 năm 2004. Lấy lại ngày 12 tháng 4 năm 2008.</ref> vào ngày 27 tháng 9 năm 1968, và vẫn tiếp tục cho tới tháng 3 năm 1970.<ref name="listofshows">[http://www.elainepaige.com/shows.html Elaine Paige Shows]. Trang Web chính thức của Elaine Paige. Lấy lại ngày 2 tháng 7 năm 2008.</ref> Trong khi đang diễn vai dự bị cho nhân vật Sheila,<ref name="desert">Fessier, Bruce. [http://www.mydesert.com/apps/pbcs.dll/article?AID=/20080810/LIFESTYLES01/808100325/1050/lifestyles01 Keep turning the Paige]. ''[[The Desert Sun]]'', ngày 10 tháng 8 năm 2008. Lấy lại ngày 14 tháng 8 năm 2008.</ref> cô đóng vai một thành viên của dàn hợp xướng,<ref name="desert"/> với vai này cô cần phải khỏa thân trong một cảnh.<ref name="lupus"/> Cô xuất hiện một chút trong bộ phim ''[[Oliver!]]''<ref>[http://www.bbc.co.uk/programmes/b008ckjf Programmes - Ron Moody]. [[BBC]], ngày 25 tháng 11 năm 2007. Lấy lại ngày 21 tháng 5 năm 2008.</ref> công chiếu vào năm 1968, và trong suốt một thập kỉ sau đó, cô tham gia đóng nhiều vai trong nhiều vở kịch, bao gồm ''[[Jesus Christ Superstar]]''; ''Nuts''; ''[[Grease]]'', trong đó cô đóng vai diễn chính, Sandy, từ năm 1973 đến năm 1974; vở nhạc kịch ''[[Billy]]'', từ năm 1974 đến năm 1975 trong vai Rita;<ref name="thestageturning"/><ref name="show">Barber, Lynn. [http://observer.guardian.co.uk/life/story/0,,193966,00.html Show girl]. ''The Guardian'', ngày 16 tháng 5 năm 2000. Lấy lại ngày 7 tháng 1 năm 2008.</ref> và vở ''[[The Boyfriend]]'', với vai Maisie (năm 1975–1976).<ref name="listofshows"/>

Sau nhiều tháng tham gia các buổi thử giọng, thử diễn xuất,<ref name="artist"/> [[Hal Prince]] đề nghị Paige, lúc đó vẫn còn ít tiếng tăm, tham gia đóng vai [[Evita|Eva Perón]] trong lần ra mắt đầu tiên vở nhạc kịch ''[[Evita]]'' của [[Tim Rice]] và [[Andrew Lloyd Webber]].<ref name="shanghai">Qiao, Michelle. [http://www.chinadaily.com.cn/citylife/2006-12/12/content_756553.htm Elaine Paige sings to Shanghai]. ''[[China Daily]]'', ngày 12 tháng 12 năm 2006. Lấy lại ngày 18 tháng 1 năm 2008.</ref><ref>[http://news.bbc.co.uk/1/hi/entertainment/4665128.stm Lloyd Webber to revive Evita show]. [[BBC|BBC News]], ngày 31 tháng 1 năm 2006. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.</ref> Vai diễn của cô đã nhận được nhiều lời phê bình tích cực và làm cho cô trở nên nổi tiếng ở tuổi 30.<ref name="turning"/> Paige thực ra chỉ là sự lựa chon thứ hai cho vai diễn này sau Julie Covington, nhưng Covington đã từ chối cơ hội.<ref name="turning">Logan, Brian. [http://entertainment.timesonline.co.uk/tol/arts_and_entertainment/stage/theatre/article1877776.ece The turning of the Paige]. ''The Times'', ngày 4 tháng 6 năm 2007. Lấy lại ngày 6 tháng 1 năm 2008.</ref> Với vai diễn trong [[Evita]], cô giành được [[Giải Laurence Olivier]] cho diễn xuất nhạc kịch của năm,<ref name="olivier1978">[http://www.officiallondontheatre.co.uk/olivier_awards/past_winners/view/item98512/Olivier-Winners-1978/ The Nominees and Winners of The Laurence Olivier Awards for 1978]. [[Society of London Theatre]]. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.</ref> và giải thưởng của hiệp hội sân khấu West End cho nữ diễn viên nhạc kịch xuất sắc nhất và giải thưởng [[Variety Club]] cho nhân vật trong làng giải trí của năm.<ref name="drowsy">[http://london.broadway.com/story/id/3005525 Elaine Paige to Return to the West End in B'way Hit The Drowsy Chaperone]. london.broadway.com. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.</ref> Cô đã đóng vai này trong tổng cộng 20 tháng từ năm 1978 đến năm 1980.<ref name="comedy"/> Cô đồng thời cũng ra album đầu tiên vào năm 1978, đặt tên là ''Sitting Pretty''.<ref name="thestageturning">Shenton, Mark. [http://www.thestage.co.uk/features/feature.php/5548 Turning another Paige - Elaine Paige]. ''The Stage'', ngày 10 tháng 12 năm 2004. Lấy lại ngày 12 tháng 4 năm 2008.</ref> Trước thành công trong ''Evita'', Paige đã thật sự quan tâm tới việc trở thành một bảo mẫu, nhưng sau khi cô hát cho [[Dustin Hoffman]], cô hứa rằng sẽ tiếp tục sự nghiệp sân khấu.<ref name="turning"/>

=== 1981–1993: thời kì của ''Cats'' và ''Chess'' ===

Paige thể hiện một số vai diễn nữ đáng chú ý của Lloyd Webber, đặc biệt là nhân vật [[Grizabella]] trong vở ''[[Cats]]'' từ ngày 11 tháng 5 năm 1981 tới ngày 13 tháng 2 năm 1982.<ref name="cats">[http://news.bbc.co.uk/1/hi/entertainment/showbiz/1761508.stm Record-breaking Cats bows out]. BBC News, ngày 15 tháng 1 năm 2002. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.</ref><ref name="ny">Marks, Peter. [http://query.nytimes.com/gst/fullpage.html?res=9A05EEDB133FF932A35752C1A96E958260 Cover Story; Broadway's 'Cats': Restaged for Eternity (And We Thought They Were Kidding!)]. ''[[The New York Times]]'', ngày 1 tháng 11 năm 1998. Lấy lại ngày 6 tháng 1 năm 2008.</ref> Cô tham gia khá muộn trong quá trình tổng duyện khi nữ diễn viên [[Judi Dench]] phải rút lui do chân thương dây chằng ở bụng chân.<ref name="cats"/> Bài hát "[[Memory]]", với vai diễn của Paige trong vở "Cats", đã lọt vào Top 10 hit,<ref>[http://news.bbc.co.uk/1/hi/wales/7494279.stm Elaine Paige launches eisteddfod]. BBC News, ngày 9 tháng 7 năm 2008. Lấy lại ngày 13 tháng 7 năm 2008.</ref> và trở thành một phần dấu ấn trong sự nghiệp diễn xuất của cô.<ref name="turning"/><ref name="walesonline">Price, Karen. [http://www.walesonline.co.uk/showbiz-and-lifestyle/2008/06/27/elaine-paige-the-first-lady-of-theatre-91466-21157694/ Elaine Paige - the First Lady of Theatre]. ''[[Western Mail (Wales)|Western Mail]]'', ngày 27 tháng 6 năm 2008. Lấy lại ngày 29 tháng 6 năm 2008.</ref> Bài hát đã xếp vị trí thứ 5 trong [[UK Singles Chart]] và kể từ đó đã được tái thu âm bởi hơn 160 nghệ sĩ.<ref>Milner, Catherine. [http://www.telegraph.co.uk/news/uknews/1393913/Lloyd-Webber%27s-Cats-give-their-final-miaow.html Lloyd Webber's Cats give their final miaow]. ''[[The Daily Telegraph]]'', ngày 5 tháng 12 năm 2002. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.</ref> Cô đóng lại vai Grizabella một lần nữa trong bản video của ''Cats'' vào năm 1998,<ref>[http://news.bbc.co.uk/1/hi/entertainment/184239.stm Paws and play - Cats goes to video]. BBC News, ngày 1 tháng 10 năm 1998. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.</ref> một trong hai diễn viên đóng phim là diễn viên cũ ở London.<ref name="ny"/> Trang web của Paige tuyên bố rằng cuốn băng đã sớm trở thành bản video bán chạy nhất ở Mỹ và Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland.<ref name="official">[http://www.elainepaige.com/home.html Elaine Paige Biography]. Elaine Paige Official Website. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.</ref>

Paige đã đóng vai chính trong một vở ''[[Abbacadabra]]'' vào năm 1983, viết bởi các cựu thành viên của [[ABBA]], [[Björn Ulvaeus]] và [[Benny Andersson]],<ref name="rec">Blackman, Jaine. [http://archive.thisiswiltshire.co.uk/2006/6/30/270015.html Elaine Page & Michael Ball - The Rec]. ''[[Swindon Advertiser]]'', ngày 15 tháng 7 năm 2006. Lấy lại ngày 19 tháng 1 năm 2007.</ref> trong đó cô đóng vai Carabosse.<ref name="profile">[http://www.elainepaige.com/career_profile.html Elaine Paige career profile]. Elaine Paige Official Website. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.</ref> Cô tiếp tục diễn vai Florence trong album chủ đề''[[Chess]]'', với lời của [[Tim Rice]] và nhạc của Ulvaeus và Anderson.<ref>[http://www.whatsonstage.com/index.php?pg=207&story=E8821200054342 Groban & Menzel Star in Chess at Royal Albert Hall]. whatsonstage.com, ngày 11 tháng 1 năm 2008. Lấy lại ngày 19 tháng 1 năm 2008.</ref> Các album của cô, ''[[Stages]]'' (1983), và ''[[Cinema]]'' (1984), kết hợp với bản ghi âm của ''Chess'' đang giữ vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, giving her three consecutive successful albums.<ref name="thestageturning"/> Năm 1985, Paige cho ra "[[I Know Him So Well]]", một đoạn song ca trích từ ''Chess'', hát với [[Barbara Dickson]]. Bản nhạc giữ vị trí số 1 UK Singles Charts trong bốn tuần liền<ref name="record">Corliss, Richard. [http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,963352,00.html A Hit Show for the Record]. ''[[Time (tạp chí)|Tạp chí Time]]'', ngày 18 tháng 3 năm 1985. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.</ref> và vẫn là bản ghi âm song ca bán chạy nhất, theo ''[[Sách Kỷ lục Guinness|Sách Kỷ Lục Guinness]]''.<ref name="turning"/><ref name="questions">[http://www.independent.co.uk/news/people/you-ask-the-questions-such-as-so-elaine-paige-have-you-ever-sung-in-a-karaoke-bar-714262.html Bạn hỏi các câu hỏi (Ví dụ như: Elaine Paige, cô đã bao giờ hát trong một quán ba chưa?)]. ''[[The Independent]]'', ngày 7 tháng 6 năm 2000. Lấy lại ngày 29 tháng 1 năm 2008.</ref> Từ năm 1986 đến năm 1987, Paige đóng vai Florence trong vở nhạc kịch ''Chess'',<ref name="thestageturning"/> vai diễn giúp cô nhận được thêm một đề cử giải [[Laurence Olivier]] nữa dành cho diễn viên nhạc kịch nữ cực kỳ xuất sắc.<ref name="olivier1986">[http://www.officiallondontheatre.co.uk/olivier_awards/past_winners/view/item98521/Olivier-Winners-1986/ The Nominees and Winners of The Laurence Olivier Awards for 1986]. [[Society of London Theatre]]. Lấy lại ngày 24 tháng 1 năm 2008.</ref> Năm sau, cô đến biểu diễn ở [[Nhà Trắng]] vào năm 1988.<ref name="walesonline"/>

Sau đó, Paige nhận vai diễn Reno Sweeney trong vở nhạc kịch ''[[Anything Goes]]'', tác phẩm mà cô đồng sản xuất, đóng từ năm 1989 đến năm 1990.<ref name="thestageturning"/> [[Patti Lupone]], một nữ diễn viên người Mỹ, cũng diễn vai Sweeney ở BroadWay cùng thời điểm đó, nên Paige tìm cách trở thành nhà đồng sản xuất của phiên bản tại West End như một cách để bảo vệ vai diễn này trước khi Lupone nhận nó.<ref name="comedy">Shenton, Mark. [http://london.broadway.com/story/id/3007637 Elaine Paige]. london.broadway.com, ngày 11 tháng 6 năm 2007. Lấy lại ngày 20 tháng 4 năm 2008.</ref> Đóng vai Reno Sweeney là lần đầu tiên Paige phát âm kiểu Mỹ trên sân khấu,<ref>Trucco, Terry. [http://query.nytimes.com/gst/fullpage.html?res=950DEFDC163BF936A15754C0A96F948260 A London Accent for 'Anything Goes']. ''The New York Times'', ngày 25 tháng 7 năm 1989. Lấy lại ngày 21 tháng 3 năm 2008.</ref> và vai diễn này đã đem lại đề cử Olivier lần thứ ba cho cô.<ref name="olivier1989">[http://www.officiallondontheatre.co.uk/olivier_awards/past_winners/view/item98524/Olivier-Winners-1990/ The Nominees and Winners of The Laurence Olivier Awards for 1989/90]. [[Society of London Theatre]]. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.</ref> Bên cạnh các vai diễn kịch, cô cũng xuất hiện trên chương trình truyền hình ''Unexplained Laughter'' vào năm 1989 cùng [[Diana Rigg]].<ref name="thestageturning"/>

Năm 1993, Paige nhận thể hiện hình ảnh của ca sĩ hộp đêm nổi tiếng người Pháp [[Édith Piaf]] trong vở nhạc kịch ''[[Piaf (play)|Piaf]]'' của '[[Pam Gems]]' để được sự khen ngợi của công chúng.<ref name="show">Barber, Lynn. [http://observer.guardian.co.uk/life/story/0,,193966,00.html Show girl]. ''The Guardian'', ngày 16 tháng 5 năm 2000. Lấy lại ngày 1 tháng 1 năm 2008.</ref> ''[[The Guardian]]'' viết rằng Paige là "một Piaf vĩ đại và hoàn hảo".<ref name="newnorma"/> Vỏ diễn với yêu cầu rất cao này buộc Paige hát 15 bài, một số bằng tiếng Pháp, và lên sàn trong tổng cộng 2 giờ 40 phút, khiến cô bị kiệt sức.<ref name="show"/> Sự thể hiện của cô trong vở Piaf mang lại cho cô đề cử thứ 4 cho giải Olivier cho diễn viên nhạc kịch nữ xuất sắc nhất;<ref name="olivier1994">[http://www.officiallondontheatre.co.uk/olivier_awards/past_winners/view/item98528/Olivier-Winners-1994/ The Nominees and Winners of The Laurence Olivier Awards for 1994]. [[Society of London Theatre]]. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.</ref> sau đó cô cho phát hành bản album; lấy tên là ''Piaf'', có chứa các bài hát của Édith Piaf.<ref>[http://www.amazon.co.uk/Piaf-Elaine-Paige/dp/B000024BRL/ref=pd_bbs_sr_14?ie=UTF8&s=music&qid=1203437574&sr=8-14 Piaf]. [[Amazon (website)|Amazon]]. Lấy lại ngày 19 tháng 2 năm 2008.</ref>

=== 1994–2001: ''Sunset Boulevard'' và lân đầu xuất hiện ở Broadway ===

Vào năm 1995, Paige được phong tước OBE bởi nữ hoàng Elizabeth cho những đóng góp của cô cho sân khấu nhạc kịch.<ref name="returns">[http://news.bbc.co.uk/1/hi/entertainment/6276605.stm Elaine Paige returns to West End]. BBC News, ngày 18 tháng 1 năm 2007. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.</ref><ref name=gazette>{{LondonGazette|issue=số 54066|supp=yes|startpage=từ trang 10|endpage=đến trang 13|date=ngày 16 tháng 6 năm 1995|accessdate=ngày 19 tháng 2 năm 2008}}</ref>

Paige thế chân Betty Buckley trong vai [[Norma Desmond]] trong vở nhạc kịch ''[[Sunset Boulevard]]'' của Lloyd Webber ở sân khâu West End vào năm 1994, khi [[Betty Buckley|Buckley]] bị ốm, trước khi trở thành diễn viên chính thức vào năm sau.<ref name="show"/> Với vai thế này, cô giành được giải Variety Club cho diễn viên xuất sắc nhất của năm,<ref name="thestageturning"/> và được đề cử diễn viên nữ xuất sắc nhất giải Olivier năm 1996.<ref name="olivier1996">[http://www.officiallondontheatre.co.uk/olivier_awards/past_winners/view/item98530/Olivier-Winners-1996/ The Nominees and Winners of The Laurence Olivier Awards for 1996]. [[Society of London Theatre]]. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.</ref> Sau đó, cô chuyển đến Mỹ để ra mắt ở Broad Way, tại [[sân khấu Minskoff]] vào ngày 12 tháng 9 năm 1996,<ref name="listofshows"/> và tiếp tục gắn bó với chương trình diễn cho đến khi nó kết thúc ngày 22 tháng 3 năm 1997.<ref>Weber, Bruce. [http://query.nytimes.com/gst/fullpage.html?res=9500E4DC133BF937A15750C0A961958260 The Fans Kept Howling for More, but That's All There Was]. ''The New York Times'', ngày 24 tháng 3 năm 1997. Lấy lại ngày 11 tháng 7 năm 2008.</ref> Trong vở ''Sunset Boulevard'' ở Broadway, cầu thang đã được nâng cao tới 6 inch để phù hợp với chiều cao khiêm tốn của Paige, hoặc khán giả sẽ khó nhìn thấy cô sau lan can.<ref name="growthfactor">Brantley, Ben. [http://query.nytimes.com/gst/fullpage.html?res=9A02E7D8163AF930A2575AC0A960958260&scp=3&sq=elaine+paige&st=nyt Growth Factor: It's a Force of Will]. ''The New York Times'', ngày 13 tháng 9 năm 1996. Lấy lại ngày 27 tháng 3 năm 2008.</ref> Paige nhận được nhiều lời nhận xét tích cực đối với vai Norma Desmond "Âm điệu ngọt ngào và sức mạnh tuyệt đối của giọng ca cô, đơn giản là tuyệt đến mức khó tin", một nhà phê bình viết, trong khí đó một người khác nói "Giọng của cô có một âm vực rộng, sự rõ ràng đán kể và đầy sức truyền cảm".<ref>Gans, Andrew. [http://www.playbill.com/news/article/print/65184?id=65184 Diva Talk: Elaine Shines/ Betty Sings]. ''Playbill'', ngày 13 tháng 9 năm 1996. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.</ref> Đề cập đến vai diễn của Paige trong "As If We Never Said Goodbye", Lloyd Webber nói rằng: nó "rất tốt, nếu không phải là tốt nhất, trong những gì.. tôi từng nghe ".<ref name="newnorma"/> Dù cô thất vọng khi mong muốn được diễn ''Evita'', ''Cats'' và ''Chess'' ở Broad Way không được thực hiện, Paige nhận xét rằng sự ra mắt của mình tại Broad Way "là thời điểm tuyệt vời để diễn vở nhạc kịch này".<ref name="show"/> Sau khi ''Sunset Boulevard'' kết thúc, cô đau khổ, nói rằng việc buổi diễn kết thúc "tạo nên cho tôi một cảm gíac kinh khủng. ... Tôi cảm thấy như mình vừa mất cái gì đó vô cùng quan trọng. Tôi cảm thấy như nó đã chết vậy".<ref name="know">Barber, Richard. [http://findarticles.com/p/articles/mi_qn4161/is_20000416/ai_n14507971 Getting to know me: Elaine Paige]. ''[[Daily Mirror]]'', ngày 16 tháng 4 năm 2000. Lấy lại từ findarticles.com vào ngày 6 tháng 1 năm 2008.</ref>

Năm 1996, Nhà phê bình nghệ thuật [[Melvyn Bragg]] dẫn một chương trình đặc biệt của ''[[The South Bank Show]]'' nói về sự nghiệp của Paige, mang tên là ''The Faces of Elaine Paige''.<ref name="mtv">Torreano, Bradley. [http://www.mtv.com/music/artist/paige_elaine/artist.jhtml#bio Elaine Paige Biography]. [[MTV]]. Lấy lại ngày 29 tháng 3 năm 2008.</ref> Chương trình đã theo các cuộc viếng thăm của côtới những địa điểm trên thế giới nơi mà những vở kịch cô tham gia đã được dựng.<ref name="mtv"/> Năm 1997, Paige ra mắt ở sân khâu Mỹ đầu tiên khi cô mở đầu cho mùa [[Boston Pops]], vở nhạc kịch được phát sóng trên đài [[WGBH-TV|WGBH]] ở Mỹ.<ref>Gans, Andrew. [http://www.playbill.com/news/article/print/65304?id=65304 Diva Talk: Together at Last (Again): Elaine in Boston; Patti in London]. ''Playbill'', ngày 16 tháng 5 năm 1997. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.</ref> Năm sau, cô xuất hiện ở lễ sinh nhật ở tuổi 50 của Andrew Lloyd Webber ở [[Royal Albert Hall]] với tư cách là một khách mời nổi tiếng.<ref>Van Gelder, Lawrence. [http://query.nytimes.com/gst/fullpage.html?res=9802E3DB113AF934A35757C0A96E958260 Footlights]. ''The New York Times'', ngày 7 tháng 4 năm 1998. Lấy lại ngày 7 tháng 1 năm 2008.</ref> Trong lễ sinh nhật đó, cô hát hai bài "Memory" và "[[Don't Cry for Me Argentina]]", trích từ các vở nhạc kịch của Lloyd Webber. Vai diễn tiếp theo của Paige là Célimène trong vở kịch ''[[Le Misanthrope]]'' (không phải nhạc kịch) vào năm 1998, nhưng cô thừa nhận rằng cô nhớ cái chất âm nhạc không thể làm quan với sự im lặng.<ref name="show"/> Giải Lifetime Achievement từ [[National Operatic and Dramatic Association]] sớm đến với cô.<ref name="drowsy"/> Cô diễn cùng với [[Bette Midler]] trong một buổi hòa nhạc tại New York năm 1999 để tăng tiền quyên góp cho [[Breast Cancer Research Foundation]].<ref>Gans, Andrew. [http://www.playbill.com/celebritybuzz/article/65911.html Diva Talk: Charitable Divas and More]. ''Playbill'', ngày 7 tháng 5 năm 1999. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.</ref>

Từ năm 2000 đến năm 2001, cô đóng vai Anna trong vở kịch ''[[The King and I]]'' của [[Rodgers and Hammerstein]], một vở kịch đã lâu không được đóng, ở [[London Palladium]].<ref name="drowsy"/> Paige đã khước từ đề nghị về vai diễn này trong lân đầu tiên cô nhận được, nhưng sau đó lại chấp nhận, và thừa nhậ rằng mình đã quên đi điểm thú vị của nó,<ref>Low, Valentine. [http://www.thisislondon.co.uk/theatre/article-583251-details/New+Paige+turns+for+King+and+I/article.do New Paige turns for ''King and I'']. ''[[The London Evening Standard]]'', ngày 25 tháng 4 năm 2000. Lấy lại ngày 21 tháng 1 năm 2007.</ref> dù cô đã đặt ra câu hỏi liệu cô có phù hợp với vai diễn đó.<ref name="comedy"/> Trước khi mở cửa, vở kịch đã bán được hơn 7 triệu vé.<ref>[http://news.bbc.co.uk/1/hi/entertainment/736088.stm King and I opens in triumph]. BBC News, ngày 4 tháng 5 năm 2000. Lấy lại ngày 20 tháng 4 năm 2008.</ref> Nhà phê bình của ''[[The Independent]]'' nói rằng, "Nó không thể trờ nên thành công như Evita hay Anna",<ref>Butler, Robert. [http://www.independent.co.uk/arts-entertainment/theatre/features/all-dressed-up-but-going-nowhere-718380.html All dressed up but going nowhere]. ''[[The Independent]]'', ngày 8 tháng 5 năm 2000. Lấy lại ngày 20 tháng 4 năm 2008.</ref> whereas ''[[The Spectator]]'' asserted that the role further strengthened her title as the "First Lady of British Musical Theatre".<ref>Morley, Sheridan. [http://findarticles.com/p/articles/mi_qa3724/is_200005/ai_n8884622 The first lady sings]. ''[[The Spectator]]'', ngày 13 tháng 5 năm 2000. Lấy lại ngày 20 tháng 4 năm 2008.</ref>

=== 2002-đến nay: Sóng phát thanh và trở lại West End ===

Paige hát ở lễ khai mạc của [[Thế vận hội Mùa đông 2002]] ở [[Thành phố Salt Lake,Utah]], và rồi diễn buổi đầu tiên của cô ở Los Angeles tại [[Pasadena Civic Auditorium]].<ref>Ehren, Christine.[http://www.playbill.com/news/article/67798.html Elaine Paige Sings for Olympics Feb. 15-16; Makes L.A. Concert Debut Feb. 20-21]. ''Playbill'', ngày 15 tháng 2 năm 2002. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.</ref> Năm 2003, cô đóng vai Angèle trong ''Where There’s a Will '' (Ở đâu có giấc mơ), đạo diễn bởi [[Peter Hall]].<ref name="drowsy"/> Tiếp theo cô đóng vai quý bà Lovett trong vở kịch ''[[Sweeney Todd]]'' của [[Stephen Sondheim]] ở [[Nhà hát Opera thành phố New York]],<ref>Zinoman, Jason. [http://query.nytimes.com/gst/fullpage.html?res=9D0DE7D91038F933A05752C0A9629C8B63 On Stage And Off]. ''The New York Times'', ngày 30 tháng 1 năm 2004. Lấy lại ngày 6 tháng 1 năm 2008.</ref> nhận được các lời khen ngợi từ các nhà phê bình,<ref>[http://www.sondheim.org/php/news.php?id=1563 New York City Opera's Sweeney Todd reviews]. [[The Stephen Sondheim Society]], ngày 12 tháng 3 năm 2004. Lấy lại ngày 9 tháng 5 năm 2008.</ref> và một đề cử [[giải Drama Desk]] cho diễn viên nhạc kịch nữ đặc biệt xuất sắc.<ref>Gans, Andrew. [http://www.playbill.com/news/article/100492.html Elaine Paige to Record New Theatre Album]. ''Playbill'', ngày 25 tháng 6 năm 2006. Lấy lại ngày 24 thasng2 năm 2008.</ref> Sau đó Paige tham gia chuyến lưu diễn quanh Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland mang tên"No Strings Attached".<ref>Gans, Andrew. [http://www.playbill.com/news/article/83504.html Elaine Paige to Launch "No Strings Attached Tour" in May]. ''Playbill'', ngày 25 tháng 12 năm 2003. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.</ref>

Vào tháng 9 năm 2004, Paige bắt đầu tham gia một chương trình phát thanh hàng tuần, ''[[Elaine Paige on Sunday]]''(Chủ Nhật của Elaine Paige),<ref name="returns"/> trên sóng [[BBC Radio 2]], về âm nhạc trong nhạc kịch và phim.<ref>[http://news.bbc.co.uk/1/hi/entertainment/music/3531472.stm Lulu stars in new Radio 2 line-up]. BBC News, ngày 3 tháng 8 năm 2004. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.</ref> Trong một bài báo tỏ thái độ không thích thú, Elisabeth Mahoney của ''[[The Guardian]]'' mô tả chương trình như ''một chương trình không thân thiện'' và một ''bước đi sai lầm hiếm có'' của Radio 2.<ref>Mahoney, Elisabeth. [http://www.guardian.co.uk/tv_and_radio/story/0,,1495278,00.html Shrill by mouth]. ''The Guardian'', ngày 30 tháng 5 năm 2005. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.</ref> Lisa Martland của ''The Stage'' đồng ý rằng "Âm nhạc mới là thứ mang tôi trở lại chương trình này;.. chứ không phải lối dẫn chương trình ''nhẹ cân'' của cô ta''.<ref>Martland, Lisa. [http://www.thestage.co.uk/features/feature.php/16667/radio-light-programme Radio - light programme]. ''The Stage'', ngày 30 tháng 4 năm 2007. Lấy lại ngày 12 tháng 4 năm 2008.</ref> Tuy vậy, chương trình vẫn thu hút được 3 triệu thính giả,<ref name="rec"/> với các cuộc phóng vấn đặc biết vào mỗi tuần.<ref>Gans, Andrew. [http://www.playbill.com/news/article/87834.html West End Star Elaine Paige to Host BBC Radio Program ]. ''Playbill'', ngày 11 tháng 8 năm 2004. Lấy lại ngày 24 tháng 6 năm 2008.</ref> Paige cũng quan tâm vào việc xuất hiện trên các chương trình truyền hình, đóng vai Dora Bunner trên [[Truyền hình tương tác|ITV]] năm 2005 trong bộ phim chuyển thể ''[[A Murder is Announced]]'' của [[Agatha Christie]] trong series chương trình ''[[Marple]]'', trước khi tham gia ''[[Where the Heart Is]]'' trong vai một nữ hiệu trưởng đã nghỉ hưu.<ref name="rock">Marlow, Will. [http://www.manchestereveningnews.co.uk/entertainment/music/rock_and_pop/s/225/225726_elaines_still_a_paige_turner.html Rock and pop]. ''[[Manchester Evening News]]'', ngày 17 tháng 10 năm 2006. Lấy lại ngày 6 tháng 1 năm 2008.</ref> Có 7,78 triệu người theo dõi chương trình ''Marple'',<ref>[http://www.barb.co.uk/viewingsummary/weekreports.cfm?report=weeklyterrestrial&RequestTimeout=500 Weekly Viewing Summary. See w.e 02/01/05]. [[Broadcasters' Audience Research Board]]. Lấy lại ngày 9 tháng 3 năm 2008.</ref> và 6,34 triệu người theo dõi chương trình ''Where the Heart Is''.<ref>[http://www.barb.co.uk/viewingsummary/weekreports.cfm?report=weeklyterrestrial&RequestTimeout=500 Weekly Viewing Summary. See w.e 10/07/05]. [[Broadcasters' Audience Research Board]]. Lấy lại ngày 9 tháng 3 năm 2008.</ref>

Năm 2006, Paige phát hành bản album đầy đủ đầu tiên của cô trong 12 năm, đặt tên là ''Essential Musicals''.<ref name="rock"/> Bản album bao gồm các bài hát nổi tiếng nhất từ các vở nhạc kịch cô từng tham gia, xác định qua một cuộc điều tra trên chương trình truyền hình của cô,<ref name="rock"/> với 400.000 thính giả tham gia bầu chọn.<ref name="scotsman"/> Paige đã ghi âm tổng cộng 20 album solo, trong đó có 8 đĩa liên tiếp đạt giải vàng và 4 đạt giải đa bạch kim, và cô cũng nổi bật nhờ 7 album kịch.<ref name="scotsman"/> Gần đây hơn, cô cộng tác với nhóm [[Secret Garden (ban nhạc)|Secret Garden]] trong việc ghi âm bài hát "The Things You Are to Me" trong album năm 2007, ''Inside I'm Singing'' của họ.<ref>Gans, Andrew. [http://www.playbill.com/news/article/113255.html Paige, Streisand and More Featured on Secret Garden's "Inside I'm Singing" CD]. ''Playbill'', ngày 4 tháng 12 năm 2007. Lấy lại ngày 24 tháng 2 năm 2008.</ref> Paige cũng đã xuất hiện tại sân khấu ở Scandinavia, Hong Kong, Châu Âu, Trung Đông, New Zealand, Australia và [[Singapo]].<ref>[http://www.thestage.co.uk/news/newsstory.php/9724 Paige starts Antipodes tour]. ''The Stage'', ngày 20 tháng 9 năm 2005. Lấy lại ngày 12 tháng 4 năm 2008.</ref> Ngày 20 và 21 tháng 12 năm 2006, cô diễn tại sân khấu ở Thượng Hải, kéo dài chuyến lưu diễn của cô kéo dài tua diễn thêm hai ngày để đáp ứng nhu cầu của khán giả.<ref name="shanghai">Qiao, Michelle. [http://www.chinadaily.com.cn/citylife/2006-12/12/content_756553.htm Elaine Paige sings to Shanghai]. ''[[China Daily]]'',ngày 12 tháng 12 năm 2006. Lấy lại ngày 18 tháng 1 năm 2008.</ref> Vào năm 2006, trả lời câu hỏi tại sao cô không tham gia diễn nhạc kịch nữa trong nhiều năm, cô tuyên bố rằng "Không có gì tôi muốn làm, và nếu bạn cam kết một năm ở nhà hát, sáu ngày trong tuần, và không có cuộc sống, rồi nó trở thành một cái gì đó bạn muốn làm bằng cả trái tim ".<ref name="rock"/> Cô cũng khẳng định rằng đối với một diễn viên lớn tuổi, kiếm được một vai diễn sẽ khó hơn.<ref name="big">Bishop, Caroline. [http://www.officiallondontheatre.co.uk/news/interviews/view/item71958/Elaine-Paige/ The Big Interview: Elaine Paige]. [[Society of London Theatre]], ngày 6 tháng 6 năm 2007. Lấy lại ngày 6 thasng1 năm 2007.</ref>

Năm 2007, Paige trở về sân khấu West End lần đầu tiên sau 6 năm,<ref name="returns"/> trong vai Chaperone/Beatrice Stockwell trong ''[[The Drowsy Chaperone]]'' ở [[Nhà hát Novello]].<ref>Baluch, Lalayn. [http://www.thestage.co.uk/news/newsstory.php/17389/west-ends-the-drowsy-chaperone-to-close-in West End’s The Drowsy Chaperone to close in August]. ''The Stage'', ngày 10 tháng 7 năm 2007. Lấy lại ngày 5 tháng 1 năm 2008.</ref> Chương trình diễn đáng thất vọng với 96 buổi diễn,<ref>Hastings, Chris and Jones, Beth. [http://www.telegraph.co.uk/news/main.jhtml?xml=/news/2007/07/29/ntheatre129.xml Early curtain call for 25 West End shows]. ''The Daily Telegraph'', ngày 29 tháng 7 năm 2007. Lấy lại ngày 8 tháng 3 năm 2008.</ref> dù nó mở màn để đón sự hưởng ứng nhiệt tình từ phía khán giả và phản ứng lạc quan của các nhà phê bình.<ref>Ouzounian, Richard. [http://www.thestar.com/columnists/article/223017 Drowsy Chaperone wakes up British critics]. ''[[Toronto Star|The Star]]'', ngày 8 tháng 6 năm 2007. Lấy lại ngày 20 tháng 4 năm 2008.</ref> ''[[The Daily Telegraph]]'' viết, "Elaine Paige is a good sport... enduring jokes about her reputation for being 'difficult' with a grin that doesn't seem all that forced. ... Only the self-importantly serious and the chronically depressed will fail to enjoy this preposterously entertaining evening".<ref>Spencer, Charles. [http://www.telegraph.co.uk/arts/main.jhtml?view=DETAILS&grid=&xml=/arts/2007/06/07/btdrowsy07.xml Frothy and inane, but curiously touching]. ''The Daily Telegraph'', ngày 7 tháng 6 năm 2007. Lấy lại ngày 20 tháng 4 năm 2008.</ref> Paul Taylor từ tờ ''[[The Independent]]'' không ấn tướng đến như vậy và cô viết "a miscast Elaine Paige manages to be unfunny to an almost ingenious degree as the heroine's bibulous minder".<ref>Taylor, Paul. [http://www.independent.co.uk/arts-entertainment/theatre/reviews/the-drowsy-chaperone-novello-theatre-london--none-onestar-twostar-threestar-fourstar-fivestar-452288.html The Drowsy Chaperone, Novello Theatre, London]. ''[[The Independent]]'', ngày 8 tháng 6 năm 2007. Lấy lại ngày 20 tháng 4 năm 2008.</ref> Với vai diễn này cô được đề cử cho giải What's On Stage cho nữ diễn viên nhạc kịch có nhiều đóng góp nhất.<ref name="wos">[http://www.whatsonstage.com/index.php?pg=207&story=E8821196963180 WOS Theatregoers' Choice Nominees Announced]. whatsonstage.com, ngày 7 tháng 12 năm 2007. Lấy lại ngày 22 tháng 2 năm 2008.</ref>

Ngày 28 tháng 7 năm 2007, Paige xuất hiện trong một phiên bản kỷ niệm đặc biệt của chương trình ''[[Ai là triệu phú]]'' cùng với [[Michael Ball]] gây quĩ từ thiện và cả hai đã giành được £64.000.<ref name="millionaire"/> Paige nhảy điệu [[Tango]] trong chương trình ''[[Strictly Come Dancing]]'' cùng với [[Matt Dawson]] vào tháng 3 năm 2008 để tăng tiền quyên góp cho chương trình [[Sport Relief]], hai người giành vị trí thứ hai trong chương trình này.<ref>[http://www.mirror.co.uk/showbiz/tv/todaystv/2008/03/14/sport-relief-89520-20350839/ Sport Relief]. ''[[The Daily Mirror]]'', ngày 14 tháng 3 năm 2008. Lấy lại ngày 15 tháng 3 năm 2008.</ref> Cô tham gia[[Lễ hội Eisteddfod Quốc tế]] ở [[Llangollen]] vào tháng 7 năm 2008, trình diễn một vài bài hát nổi tiếng trong 40 năm sự nghiệp của cô.<ref>[http://www.eveningleader.co.uk/features/Elaine-Paige-to-open-latest.3673547.jp Elaine Paige to open latest chapter of International Musical Eisteddfod]. ''[[Wrexham Evening Leader]]'', ngày 15 tháng 1 năm 2008. Lấy lại ngày 8 tháng 5 năm 2008.</ref> Cô tiếp theo sẽ tham gia một chuyến lưu diễn quay thế giới đến Trung Quốc, Mỹ và Úc.<ref name="walesonline"/> Để kỷ niệm 40 năm ngày cô xuất hiện trên sân khấu chuyên nghiệp lần đầu tiên, vào tháng 10 năm 2008 Paige xuất bản cuốn hồi ký bằng ảnh, ''Memories''.<ref>Gans, Andrew. [http://www.playbill.com/news/article/121908.html Elaine Paige Memoir, "Memories," Arrives in U.K. Stores Oct. 2]. ''Playbill'', ngày 2 tháng 10 năm 2008. Lấy lại ngày 18 tháng 10 năm 2008.</ref>

== Cuộc sống cá nhân ==

Paige chưa kết hôn cũng hay có con,<ref name="know"/> dù cô có một mối quan hệ tình ái kéo dài 11 năm với người viết lời nhạc kịch [[Tim Rice]] trong suốt thập kỷ 1980.<ref>Bertodano, Helena de. [http://www.telegraph.co.uk/arts/main.jhtml?xml=/arts/2001/01/25/barice25.xml Tunes are child's play]. ''The Daily Telegraph''. Lấy lại ngà 6 tháng 1 năm 2008.</ref> Cô nói rằng cô muốn có con, nhưng "Tôi đã có một cuộc sống tuyệt với và đã được thỏa mãn theo nhiều cách khác".<ref name="rock"/>

Trong suốt thời gian vở nhạc kịch ''Sunset Boulevard'' diễn ra ở [[Sân khấu Adelphi]] vào năm 1995, Paige phát hiện thấy mình có khối u ở ngực, khiến cô phải gặp bác sĩ, vị bác sĩ trấn an cô rằng không có gì phải lo lắng.<ref name="cancer">Hardy, Rebecca. [http://www.dailymail.co.uk/pages/live/articles/health/womenfamily.html?in_article_id=301138&in_page_id=1799 Elaine's close curtain call]. ''[[The Daily Mail]]'', ngày 8 tháng 5 năm 2004. Lấy lại ngày 6 tháng 1 năm 2008.</ref> Cô trở lại hai lần, và bác sĩ của cô sau đó cho cô đi xét nghiệm và phát hiện ra rằng khối u kia là u ác tính, chín tháng sau khi cô phát hiện ra nó.<ref>Cummins, Fiona. [http://www.mirror.co.uk/archive/2004/05/08/elaine-s-secret-breast-cancer-battle-89520-14221097/ Elaine's Secret Breast Cancer Battle]. ''[[Daily Mirror]]'', ngày 8 tháng 5 năm 2004. Lấy lại ngày 7 tháng 1 năm 2008.</ref> Cô tiếp tục các vai diễn của mình và nói rằng, "khi tôi tham gia các buổi diễn, tôi xúc động. Môt số lời kịch dường như mang một nghĩa hoàn toàn khác. Các lời như, 'như thể chúng ta chưa bao giờ chào tạm biệt' trở nên thực hơn".<ref name="cancer"/> Paige nhập viện để phẫu thuật vào một ngày Chủ Nhật vì phải tham gia diễn xuất, và có 5 năm điều trị bằng hóa chất và trị xạ.<ref name="cancer"/> Năm 2004, cô phát biểu lần đầu tiên về quá trình đối diện với [[ung thứ vú]] trong một cuộc phỏng vấn,<ref name="cancer"/> và đã miêu tả khoảng thời gian đó như "điều tồi tệ nhất từng xảy ra đối với cuộc đời tôi".<ref name="big"/> Trong thời gian cô đóng ''The King and I'', mẹ của cô được chẩn đoán là bị ung thư. Bất chấp việc Paige muốn rút khỏi chương trình, mẹ cô chắc chắn rằng bà có thể sống được đến khi cô kết thúc bản hợp đồng,<ref name="values"/> và chị của Paige, Marion Billings, thừa nhận rằng, "Rất khó khăn cho Elaine khi phải diễn trên sân khấu hết những đêm này đem khác trong khi cô mong muốn ở bên mẹ".<ref name="values"/>

Paige đôi khi được mô tả là "khó khăn". Cây bút Brian Logan của tạp chí ''[[Times]]'', viết, " Paige không phải chính xác nổi tiếng nhờ sự khiêm tốn của cô ấy. Trong hồ sơ báo chí, dread từ 'khó khăn' thường được áp dụng".<ref name="turning"/> Trong một dịp đặc biệt, cô nói với một phóng viên nữ rằng cô sẽ dừng trả lời phỏng vấn với một phóng viên nữ, vì, "Tôi không tin những người phụ nữ khác trong những tình huống như thế này. Họ tìm cách thiết lập tình chị em với bạn rồi họ phản bội bạn".<ref name="show"/> What was perceived to be a cold side to her personality was also noted by Logan,<ref name="turning"/> nhưng Paige đã bày tỏ quan điểm rằng có một sự hiểu nhầm về cô, mà mọi người thường gặp phải, là cô tự tin và rất nghiêm túc.<ref name="broadcaster">Dykes, Andy. [http://news.independent.co.uk/people/profiles/article2539335.ece The 5-Minute Interview: Elaine Paige, Singer, actor and broadcaster]. ''[[The Independent]]'', ngày 14 tháng 5 năm 2007. Lấy lại ngày 18 tháng 1 năm 2008.</ref> Một biên tập viên khác nhận thấy cô "refreshingly down-to-earth" và "rất thân thiện".<ref name="walesonline"/>

Paige là người bảo trợ của một số tổ chức từ thiện. Cô hỗ trợ cho Breast Cancer Care và The Lupus Trust,<ref name="metro"/> sau khi cô được xác định bị Lở năm 1989.<ref>Burne, Jerome. Living with lupus. ''The Times'', ngày 7 tháng 6 năm 2004. Lấy lại ngày 6 tháng 1 năm 2008.</ref> Paige cũng tham gia tổ chức The Children's Trust trong 15 năm, cũng như chọn một trong những tổ chức từ thiện khác đễ hộ trợ mỗi năm, ví dụ như tổ chức [[Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế|Chữ thập đỏ]].<ref name="metro"/> Cô đồng thời cũng hỗ trợ tổ chức [[Everychild]], vì họ cô đã có một chuyến thi công khai tới [[Peru]] vào tháng 2 năm 2003.<ref>[http://www.everychild.org.uk/content/elainepaige Elaine Paige]. everychild.org.uk. Lấy lại ngày 10 tháng 1 năm 2008.</ref>

== Quan điểm về sân khấu ==

Dù Paige có một sự nghiệp diễn nhạc kịch lâu năm, nhưng cô hiếm khi đến xem các vở nhạc kịch, và thường xem các bộ phim và kịch nói hơn.<ref name="metro">Ellis, James. [http://www.metro.co.uk/fame/interviews/article.html?in_article_id=914&in_page_id=11 Elaine Page Interview]. ''[[Metro (Associated Metro Limited)|Metro]]'', ngày 5 tháng 1 năm 2001. Lấy lại ngày 7 tháng 1 năm 2008.</ref> Hơn thế nữa, cô quan tâm đến sự nghiệp diễn viên hơn là một ca sĩ,<ref name="show"/> cô nói rằng, "Tôi thật sự muốn in character".<ref name="scotsman"/> So sánh giữa công việc của Rodgers và Hammerstein với công việc của Lloyd Webber, Paige nói rằng cô nhận thấy Rodgers và Hammerstein more difficult and formal to sing, and described it as challenging. Cô kết luận rằng, "it's a quieter kind of singing, more controlled, not belting it out".<ref name="show"/>

Paige đã cho biết những nhu cầu vật chất của việc diễn kịch: "Nhạc kịch là việc khó nhất mà các diễn viên từng làm. Bạn bị ám ảnh về việc ngủ, ăn đúng loại thức ăn, không nói và để giữ giọng cho mình và tiếp tục luyện tập ".<ref name="thestageturning"/> Đối với những áp lực của việc ở trong điều kiện diễn thiếu thốn mỗi đêm ở sân khấu, cô nói rằng "Bạn không muốn đọc các lá thư người khác viết khi you're off và họ không hài lòng — Nó thật khủng khiếp, the guilt one feels for not being there".<ref name="show"/> Như một phần của cuộc sống hàng ngày khủng khiếp trước các vở nhạc kịch, cô phải chăm sóc giọng của mình, dừng ăn các sản phẩm từ sữa và uống rượu và cũng tập trung hơn vào việc bảo vệ sức khỏe.<ref name="show"/> Sau khoảng 3 tháng khi giọng của cô đã mệt mỏi vì phải diễn, cô bỏ cả cuộc sống xã hội, chỉ đôi khi giữ liên lạc thông qua notepad và fax.<ref name="show"/> Cô cũng không bao giờ đọc các bài phê bình của các nhà phê bình, cô nhận ra rằng sẽ không tốt nếu có quá nhiều ý kiến.<ref name="artist"/>

Paige đã đặt tên cho series chương trình người thật việc thật như ''[[Any Dream Will Do]]'', với mục đích tìm một diễn viên không tên tuổi để làm diễn viên chính trong một vở nhạc kịch, như hiểm họa lớn nhất đối với nhạc kịch hiện đại, cô tin rằng "các diễn viên, đã cố gắng trên sân khấu, không mơ đặt chính họ trong các chương trình như thế này".<ref name="artist"/> Trong một cuộc phỏng vẫn sau đó, cô đặt một câu hỏi về mức độ nghiêm trọng của các diễn viên tham gia thử giọng cho loại hình biểu diễn này: "bạn không đặt chính mình lên trên một trong những buổi biểu diễn này trong trường hợp bạn bị giết và tất cả các đồng nghiệp của bạn đều nhìn thấy".<ref name="turning"/> Cô cũng biểu thị một mong muốn về việc nhiều vở nhạc kịch mới được dàn dựng, thay vì làm lại các vở kịch cũ.<ref name="walesonline"/>

== Stage roles ==

{| border="2" cellpadding="4" cellspacing="0" style="margin: 1em 1em 1em 0; background: #f9f9f9; border: 1px #aaa solid; border-collapse: collapse; font-size: 90%;"
|- bgcolor="#B0C4DE" align="center"

! Thời gian

! Sản phẩm(vở kịch)

! Vai

! Sân khấu

! Các giải thưởng<ref name="profile"/>
|-
| 1968–1970
| ''[[Hair (musical)|Hair]]''
| Member of the Tribe
| [[Sân khấu Shaftesbury]]
|
|-
| 1973–1974
| ''[[Grease (musical)|Grease]]''
| Sandy
| [[New London Theatre]]
|
|-
| 1974–1975
| ''[[Billy (musical)|Billy]]''
| Rita
| [[Nhà hát hoàng gia, Drury Lane]]
|
|-
| 1975–1976
| ''[[The Boyfriend]]''
| Maisie
| [[Sân khấu Haymarket, Leicester]]
|
|-
| 1978–1980
| ''[[Evita (musical)|Evita]]''
| [[Evita|Eva Perón]]
| [[Sân khấu Prince Edward]]
|
*1978: [[Giải Laurence Olivier]] cho vai diễn của năm trong lĩnh vực nhạc kịch với ''Evita''<ref name="olivier1978"/>

*1978: [[Society of Sân khấu West End]] cho nữ diễn viên nhạc kịch xuất sắc nhất trong vở ''Evita''

*1978: [[Giải Variety Club]] for Showbusiness Personality of the Year
|-
| 1981–1982
| ''[[Cats (musical)|Cats]]''
| [[Grizabella]]
| Sân khấu New London
|
|-
| 1983–1984
| ''[[Abbacadabra]]''
| Miss Williams/Carabosse
| [[Sân khấu Lyrice, Hammersmith]]
|
*1984: Giải [[Rear of the Year]]
|-
| 1986–1987
| ''[[Chess]]''
| Florence Vassy
| Sân khấu Prince Edward
|
*1986: Giải Variety Club for Recording Artiste of the Year

*1986: Đề cử giải Laurence Olivier for diễn xuất xuất sắc của năm cho một nữ diễn viên nhạc kịch trong ''Chess''<ref name="olivier1986"/>

*1987: Head of the Year Award
|-
| 1989–1990
| ''[[Anything Goes]]''
| Reno Sweeney
| Sân khấu Prince Edward
|
*1989: Đề cử giải Laurence Olivier for diễn xuất xuất sắc của năm cho một nữ diễn viên nhạc kịch trong ''Anything Goes''<ref name="olivier1989"/>
|-
| 1993–1994
| ''[[Piaf]]''
| [[Édith Piaf]]
| [[Sân khấu Piccadilly]]
|
*1994: Huy chương vàng của giải Merit BASCA

*1994: Đề cử giải Laurence Olivier for diễn xuất của năm cho một nữ diễn viên nhạc kịch trong ''Piaf''<ref name="olivier1994"/>
|-
| 1994, 1995-1996, 1996–1997
| ''[[Sunset Boulevard]]''
| [[Norma Desmond]]
| [[Sân khấu Adelphi]] rồi đến [[Sân khấu Minskoff]]
|
*1995: Giải Variety Club nữ diễn viên xuất sắc nhất của năm

*1995: [[Officer of the Order of the British Empire]] (OBE) [[Queen's Birthday Honours]]<ref name=gazette/>

*1996: Đề cử giải Laurence Olivier for diễn xuất của năm cho một nữ diễn viên nhạc kịch trong ''Sunset Boulevard''<ref name="olivier1996"/>

*1996: HMV Lifetime Achievement
|-
| 1998
| ''[[Le Misanthrope]]''
| Célimène
| Sân khấu Piccadilly
|
*1999: Lifetime Achievement National Operatic and Dramatic Association
|-
| 2000–2001
| ''[[The King and I]]''
| Anna Leonowens
| [[London Palladium]]
|
|-
| 2003
| ''Where There's a Will''
| Angèle
| [[Sân khấu Yvonne Arnaud]] rồi đến [[Sân khấu hoàng gia Brighton]]
|
|-
| 2004
| ''[[Sweeney Todd – The Demon Barber of Fleet Street]]''
| Mrs Lovett
| [[Nhà hát Opera thành phố New York]]
|
*2004: Đề cử giải [[Drama Desk]] cho nữ diễn viên xuất sắc trong một vở nhạc kịch ở ''Sweeney Todd''
|-
| 2007
| ''[[The Drowsy Chaperone]]''
| The Drowsy Chaperone/Beatrice Stockwell
| [[Sân khấu Novello]]
|
*2007: What's On Stage Award nomination for Best Supporting Actress in a Musical in ''The Drowsy Chaperone''<ref name="wos"/>
|}

== Discography ==
=== Solo albums ===

{| border="2" cellpadding="4" cellspacing="0" style="margin: 1em 1em 1em 0; background: #f9f9f9; border: 1px #aaa solid; border-collapse: collapse; font-size: 90%;"
|- bgcolor="#B0C4DE" align="center"

! width="15%"|Year

! width="30%"|Album title

! Other notes
|-
| 1978 || ''Sitting Pretty'' ||
|-
| 1981 || ''[[Elaine Paige (album)|Elaine Paige]]'' ||
|-
| 1983 || ''[[Stages (Elaine Paige album)|Stages]]'' ||
|-
| 1984 || ''[[Cinema (Elaine Paige album)|Cinema]]'' ||
|-
| 1985 || ''[[Love Hurts (Elaine Paige album)|Love Hurts]]'' ||
|-
| 1986 || ''[[Christmas (Elaine Paige album)|Christmas]]'' ||
|-
| 1987 || ''Memories: The Best Of Elaine Paige'' ||
|-
| 1988 || ''[[The Queen Album (album)|The Queen Album]]'' ||
|-
| 1990 || ''The Collection'' ||
|-
| 1991 || ''[[Love Can Do That (album)|Love Can Do That]]'' ||
|-
| 1991 || ''An Evening With Elaine Paige'' || Live recordings of her 1991 UK Tour
|-
| 1993 || ''[[Romance & the Stage (album)|Romance & the Stage]]'' ||
|-
| 1994 || ''[[Piaf (Elaine Paige album)|Piaf]]'' || Songs featured in the musical ''Piaf''
|-
| 1995 || ''[[Encore (Elaine Paige album)|Encore]]'' || Including three songs from the musical ''[[Sunset Boulevard (musical)|Sunset Boulevard]]''
|-
| 1996 || ''[[Performance (Elaine Paige album)|Performance]]'' || Live recordings of her 1991 UK Tour
|-
| 1997 || ''[[From A Distance (Elaine Paige album)|From a Distance]]'' || A compilation of ''Love Can Do That'' and ''Romance & the Stage'' plus two tracks from the 1991 UK Tour
|-
| 1998 || ''[[On Reflection: The Very Best Of Elaine Paige]]'' ||
|-
| 2004 || ''[[Centre Stage: The Very Best Of Elaine Paige (album)|Centre Stage: The Very Best Of Elaine Paige]]'' || Including 9 previously unreleased studio recordings and 3 live recordings
|-
| 2006 || ''[[Essential Musicals (album)|Essential Musicals]]'' ||
|-
| 2007 || ''Songbook'' ||
|-
| 2009 || ''[[Elaine Paige Live]]'' || Live recording made as part of Paige's tour celebrating 40 years since she first appeared in the West End
|}

=== Cast recordings ===

{| border="2" cellpadding="4" cellspacing="0" style="margin: 1em 1em 1em 0; background: #f9f9f9; border: 1px #aaa solid; border-collapse: collapse; font-size: 90%;"
|- bgcolor="#B0C4DE" align="center"

! Width="20%"|Year

! width="49%"|Album title

! Other notes
|-
| 1974 || ''Billy'' || Original London Cast Recording
|-
| 1978 || ''Evita'' || Original London Cast Recording
|-
| 1981 || ''Cats'' || Original London Cast Recording
|-
| 1984 || ''Chess'' ||
|-
| 1989 || ''Anything Goes'' || 1989 London Cast Recording
|-
| 1992 || ''[[Nine (musical)|Nine]]'' ||
|-
| 2000 || ''The King and I'' || 2000 London Cast Recording
|}

=== Other albums and guest appearances ===

{| border="2" cellpadding="4" cellspacing="0" style="margin: 1em 1em 1em 0; background: #f9f9f9; border: 1px #aaa solid; border-collapse: collapse; font-size: 90%;"
|- bgcolor="#B0C4DE" align="center"

! width="15%"|Year

! width="30%"|Album title

! Other notes
|-
| 1998 || ''Songs from Whistle Down the Wind'' || Recording of the song "If Only"
|-
| 2000 || [[Michael Ball (ca sĩ)|Michael Ball]] - ''Christmas'' || Duet on "As Long As There's Christmas"
|-
| 2001 || ''Andrew Lloyd Webber — Masterpiece'' || Live recording of concert at the [[Great Hall of the People]], Beijing, China.
|}

=== Videos and DVDs ===

{| border="2" cellpadding="4" cellspacing="0" style="margin: 1em 1em 1em 0; background: #f9f9f9; border: 1px #aaa solid; border-collapse: collapse; font-size: 90%;"
|- bgcolor="#B0C4DE" align="center"

! width="5%"|Year

! width="18%"|Album title

! Other notes
|-
| 1985 || ''Lyrics by Tim Rice'' || Performances of "Don't Cry for Me Argentina" and "I Know Him So Well"
|-
| 1991 || ''[[Elaine Paige in Concert (video)|Elaine Paige in Concert]]'' || Live recording at the [[Birmingham Symphony Hall]] of 1991 concert tour
|-
| 1998 || ''Andrew Lloyd Webber — Celebration'' || Live performances of "Don't Cry for Me Argentina" and "Memory"
|-
| 2001 || ''Andrew Lloyd Webber — Masterpiece'' || Live performances of "Don't Cry for Me Argentina", "The Heart is Slow to Learn", "Memory", "The Perfect Year", "As If We Never Said Goodbye", "No Matter What" and "Ni Yong You Wo De Wei Lai — Friends for Life" (The Chinese translation of "Amigos Para Siempre")
|}

== Ghi chú ==

{{Tham khảo|2}}

== Liên kết ngoài ==

{{Wikiquote|Elaine Paige}}
*[http://www.elainepaige.com/ Official website]
*[http://www.bbc.co.uk/radio2/shows/paige BBC Radio 2 - Elaine Paige] at [[bbc.co.uk]]

*{{imdb name|id=0656704|name=Elaine Paige}}
*[http://www.ibdb.com/person.asp?ID=78068 Elaine Paige] at the [[Internet Broadway Database]]
*[http://www.bbc.co.uk/theoneshow/backstage/interviews.shtml Elaine Paige appearing on BBC's The One Show]

{{BBC Radio 2}}

{{featured article}}

{{lifetime|1948||Paige, Elaine}}

{{DEFAULTSORT:Paige, Elaine}}
[[Thể loại:Nhân vật còn sống]]
[[Thể loại:Nữ ca sĩ Anh Quốc]]
[[Thể loại:Sinh 1948]]
[[Thể loại:Ca sĩ Luân Đôn]]