Revision 61810501 of "Cuộc xâm lược Anh của người Norman" on viwiki

{{Redirect|Cuộc xâm lược của người Norman|Cuộc xâm lược Norman (định hướng)|các bài viết khác}}
{{Infobox military conflict|conflict=Cuộc xâm lược của người Norman
|image=[[Tập tin:Bayeux Tapestry WillelmDux.jpg|200px]]
|caption=[[Tấm thảm Bayeux]] mô tả [[Trận Hastings]] và các sự kiện dẫn đến nó <br /> [[File:Norman-conquest-1066.svg|230px]]<br /> Địa điểm của các sự kiện lớn trong cuộc chinh phục Anh của người Norman vào năm 1066
|partof=
|date=1066–1088
|place=[[Anh]]
|coordinates=
|result=Chiến thắng quyết định của người Norman
|territory=[[Vương quốc Anh]] nằm dưới quyền kiểm soát của người Norman
|combatant1=[[Tập tin:Flag of Wessex.svg|30px]] [[Vương quốc Anh]]
|combatant2=[[Tập tin:Arms of William the Conqueror (1066-1087).svg|20px]] [[Công quốc Normandy]]
|commander1=[[Harold Godwinson]]{{KIA}}<br />[[Edgar Ætheling]]
|commander2=[[William I của Anh|William Nhà chinh phạt]]<br />[[William II của Anh|William xứ Normandy]]
|strength1=
|strength2=
|casualties1=
|casualties2=
|image_size=}}

'''Cuộc chinh phạt Anh của người Norman''' (thường được gọi là '''Cuộc chinh phục Norman''' hoặc '''Cuộc chinh phạt''' ở Anh) là cuộc xâm lược và chiếm đóng thế kỷ 11 của Anh bởi một đội quân gồm người [[Người Norman|Norman]], Breton, Flemish và [[Người Pháp|Pháp]] do [[Công tước xứ Normandy]] lãnh đạo, sau này dặt danh hiệu là [[William The Conqueror|William Nhà chinh phạt]]. bắt đầu vào ngày 28 tháng 9 năm 1066 với việc [[William I của Anh|William, Công tước xứ Normandy]] phát động chiến dịch xâm lược Anh. William đã được gọi là [[William I của Anh|William Nhà chinh phạt]] sau khi danh chiến thắng trong [[trận Hastings]] vào ngày 14 tháng 10, 1066, với việc đánh bại vua [[Harold Godwinson|Harold II của Anh]]. Quân đội Harold đã bị cạn kiệt sau khi giành chiến thắng tại [[trận Stamford Bridge]] ở [[Bắc Anh|miền Bắc nước Anh]] vào ngày 25 tháng 9, 1066 trước [[Harald III của Na Uy|Harald III]] của [[Na Uy]]. Đến đầu 1071, William đã gần như kiểm soát hầu hết nước Anh, mặc dù một vài cuộc nổi loạn còn tiếp tục cho đến khoảng 1088.

Yêu sách của William đối với ngai vàng Anh bắt nguồn từ mối quan hệ gia đình của ông với vị vua [[Người Anglo-Saxon|Anglo-Saxon]] không có con, Edward Người xưng tội, người có thể đã khuyến khích hy vọng của William cho ngai vàng. Edward qua đời vào tháng 1 năm 1066 và được anh rể [[Harold Godwinson]] kế nhiệm. Quốc vương Na Uy [[Harald Hardrada]] đã xâm chiếm miền bắc nước Anh vào tháng 9 năm 1066 và đã chiến thắng trong [[Trận Fulford]], nhưng quân đội của Godwinson đã đánh bại và giết Hardrada trong [[Trận Stamford Bridge]] vào ngày 25 tháng 9. Trong vài ngày, William đã đặt chân ở miền nam nước Anh. Harold hành quân về phía nam để chống lại ông, để lại một phần đáng kể của quân đội của ông ở phía bắc. Quân đội của Harold đã đối đầu với những kẻ xâm lược của William vào ngày 14 tháng 10 tại [[Trận Hastings]]; lực lượng của William đã đánh bại Harold, người đã bị giết trong lễ đính hôn.

Mặc dù các đối thủ chính của William đã biến mất, ông vẫn phải đối mặt với các cuộc nổi loạn trong những năm sau đó và không an toàn trên ngai vàng của mình cho đến sau năm 1072. Đất của giới thượng lưu Anh chống cự đã bị tịch thu; một số người chạy trốn. Để kiểm soát vương quốc mới của mình, William đã cấp đất cho những người theo mình và xây dựng các lâu đài chỉ huy các điểm mạnh quân sự trên khắp vùng đất bằng [[Sách Domesday]], một bản ghi chép về "Khảo sát vĩ đại" của phần lớn nước Anh và một phần của xứ Wales được hoàn thành vào năm 1086. Các hiệu ứng khác của cuộc chinh phạt bao gồm tòa án và chính phủ, giới thiệu [[Tiếng Norman|ngôn ngữ Norman]] là ngôn ngữ của giới thượng lưu, và những thay đổi trong thành phần của tầng lớp thượng lưu, khi William đã chiếm được vùng đất được tổ chức trực tiếp từ nhà vua. Những thay đổi dần dần ảnh hưởng đến các tầng lớp nông nghiệp và đời sống làng xã: sự thay đổi chính dường như là xóa bỏ [[chế độ nô lệ]] chính thức, có thể có hoặc không liên quan đến cuộc xâm lược. Có rất ít sự thay đổi trong cấu trúc của chính phủ, vì các người cai trị Norman mới đã tiếp quản nhiều hình thức của chính phủ Anglo-Saxon.

== Nguồn gốc ==
[[File:Rollo_spol.jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Rollo_spol.jpg|phải|nhỏ|Mô tả thế kỷ 13 của Rollo (trên cùng) và con cháu của ông [[William I Longsword]] và [[Richard I của Normandy]]|466x466px]]
Năm 911, nhà cai trị dòng dõi [[Nhà Carolus|Carolingian]] người Pháp [[Charles III của Pháp]] cho phép một nhóm người [[Người Viking|Viking]] dưới quyền lãnh đạo của Rollo định cư ở [[Normandie|Normandy]] như một phần của [[Hiệp ước Saint-Clair-sur-Epte]]. Để đổi lấy đất đai, người Norsemen dưới quyền Rollo dự kiến sẽ cung cấp sự bảo vệ dọc theo bờ biển chống lại những kẻ xâm lược Viking tiếp theo.<ref name="Bates8">Bates ''Normandy Before 1066'' pp. 8–10</ref> Cuộc định cư của họ đã thành công và người Viking trong khu vực được gọi là "Người Bắc (Northmen)" và là nguồn gốc của "Normandy" và "Norman".<ref name="Normans15">Crouch ''Normans'' pp. 15–16</ref> Người Norman nhanh chóng chấp nhận văn hóa bản địa khi họ bị người Pháp đồng hóa, từ bỏ [[Pagan giáo|ngoại giáo]] và chuyển sang [[Kitô giáo]].<ref name="Bates12">Bates ''Normandy Before 1066'' p. 12</ref> Họ đã tạo ra [[nhóm ngôn ngữ Oïl]] tại ngôi nhà mới của họ và thêm các tính năng từ [[Tiếng Norse Cổ|ngôn ngữ Bắc Âu cổ]] của riêng họ, biến nó thành ngôn ngữ Norman. Họ đã kết hôn với người dân địa phương và sử dụng lãnh thổ được cấp cho họ làm căn cứ để mở rộng biên giới của công tước về phía tây, sáp nhập lãnh thổ bao gồm [[Bessins|Bessin]], [[Bán đảo Cotentin]] và [[Avranches]].<ref name="Capet53">Hallam and Everard ''Capetian France'' p. 53</ref>

Năm 1002, vua Anh đã kết hôn với [[Emma xứ Normandy]], em gái của [[Richard II, Công tước xứ Normandy]].<ref name="Unready54">Williams ''Æthelred the Unready'' p. 54</ref> Con trai của họ, Edward the Confession, người đã sống lưu vong nhiều năm ở Normandy, đã kế vị ngai vàng Anh năm 1042.<ref name="Ruling3">Huscroft ''Ruling England'' p. 3</ref> Điều này dẫn đến việc thiết lập mối quan tâm mạnh mẽ của Norman đối với chính trị Anh, vì Edward đã thu hút rất nhiều nhóm người cũ của mình để hỗ trợ, đưa các cận thần, binh lính và giáo sĩ của Norman và bổ nhiệm họ vào các vị trí quyền lực, đặc biệt là trong Giáo hội. Không có con và bị lôi kéo vào cuộc xung đột với Godwin, Bá tước Wessex và các con trai của ông, Edward cũng có thể khuyến khích tham vọng của Công tước William xứ Normandy về ngai vàng Anh<ref name="Unification86">Stafford ''Unification and Conquest'' pp. 86–99</ref>

Khi vua Edward qua đời vào đầu năm 1066, việc thiếu người thừa kế rõ ràng đã dẫn đến sự kế vị tranh chấp, trong đó một số ứng cử viên đã tuyên bố lên ngôi nước Anh.<ref name="Death167">Higham ''Death of Anglo-Saxon England'' pp. 167–181</ref> Người kế vị trực tiếp của Edward là Bá tước Wessex, [[Harold Godwinson]], người giàu nhất và quyền lực nhất trong giới quý tộc Anh. Harold được bầu làm vua bởi Witenagemot của Anh và được Đức Tổng Giám mục York, Ealdred trao vương miện, mặc dù tuyên truyền của Norman tuyên bố buổi lễ được thực hiện bởi Stigand, Tổng Giám mục Canterbury được bầu một cách không chính thức.<ref name="Death167" /><ref name="Walker136">Walker ''Harold'' pp. 136–138</ref>Harold ngay lập tức bị thách thức bởi hai nhà cai trị láng giềng hùng mạnh. Công tước William tuyên bố rằng ông đã được vua Edward hứa tặng ngai vàng và Harold đã tuyên thệ đồng ý với điều này;<ref name="BatesWilliam73">Bates ''William the Conqueror'' pp. 73–77</ref> Vua Harald III của Na Uy, thường được gọi là Harald Hardrada, cũng tranh cãi về sự kế vị. Việc ông lên ngôi dựa trên một thỏa thuận giữa người tiền nhiệm Magnus the Good và nhà vua người Anh trước đó, [[Harthacnut]], theo đó, nếu chết mà không có người thừa kế, người kia sẽ thừa kế cả Anh và Na Uy.<ref name="Death188">Higham ''Death of Anglo-Saxon England'' pp. 188–190</ref>{{efn|Harthacnut là con trai của Vua [[Cnut Đại đế]] và Emma xứ Normandy, và do đó là anh em cùng cha khác mẹ của Edward the Confesser. Ông trị vì từ năm 1040 đến 1042 và chết mà không có con.<ref name=Harthacnut>Keynes "Harthacnut" ''Blackwell Encyclopaedia of Anglo-Saxon England''</ref> Cha của Harthacnut, Cnut đã đánh bại con trai của Æthelred [[Edmund Ironside]] vào năm 1016 để giành lấy ngai vàng Anh và cưới góa phụ của Æthelred, Emma.<ref name=Conquest84>Huscroft ''Norman Conquest'' p. 84</ref> Sau cái chết của Harthacnut năm 1042, Magnus bắt đầu chuẩn bị cho một cuộc xâm lược nước Anh, nơi chỉ dừng lại sau cái chết của chính ông vào năm 1047.<ref name=Stenton423>Stenton ''Anglo-Saxon England'' pp. 423–424</ref>}} William và Harald ngay lập tức bắt đầu tập hợp quân và tàu để xâm chiếm nước Anh.<ref name="Ruling12">Huscroft ''Ruling England'' pp. 12–14</ref>{{efn|Các ứng cử viên khác sau đó đã đến trước. Đầu tiên là [[Edgar Ætheling]], cháu trai vĩ đại của Edward the Confession, người là hậu duệ của vua [[Edmund Ironside]]. Ông là con trai của Edward the Exile, con trai của Edmund Ironside, và được sinh ra ở Hungary, nơi cha anh đã chạy trốn sau cuộc chinh phạt của Anh bởi [[Cnut Đại đế| Cnut]]. Sau khi gia đình ông trở về Anh và cái chết của cha anh vào năm 1057,<ref name=Huscroft96>Huscroft ''Norman Conquest'' pp. 96–97</ref> Edgar had by far the strongest hereditary claim to the throne, but he was only about thirteen or fourteen at the time of Edward the Confessor's death, and with little family to support him, his claim was passed over by the [[Witenagemot]].<ref name=Huscroft132>Huscroft ''Norman Conquest'' pp. 132–133</ref> Another contender was [[Sweyn II of Denmark]], who had a claim to the throne as the grandson of [[Sweyn Forkbeard]] and nephew of [[Cnut the Great|Cnut]],<ref name=Stafford86>Stafford ''Unification and Conquest'' pp. 86–87</ref> but he did not make his bid for the throne until 1069.<ref name=Bates103>Bates ''William the Conqueror'' pp. 103–104</ref> [[Tostig Godwinson]]'s attacks in early 1066 may have been the beginning of a bid for the throne, but after defeat at the hands of [[Edwin, Earl of Mercia|Edwin]] and [[Morcar]] and the desertion of most of his followers he threw his lot in with Harald Hardrada.<ref name=Thomas33>Thomas ''Norman Conquest'' pp. 33–34</ref>}}

== Các cuộc đột kích của Tostig và cuộc xâm lược của Na Uy ==
{{Main|Trận Stamford Bridge}}Đầu năm 1066, anh trai bị lưu đày của Harold, Tostig Godwinson, đột kích miền đông nam nước Anh với một hạm đội mà anh ta đã tuyển mộ ở [[Flanders]], sau đó được các tàu khác từ [[Orkney]] tham gia.{{efn|Tostig, who had been [[Earl of Northumbria]], was expelled from that office by a Northumbrian rebellion in late 1065. After King Edward sided with the rebels, Tostig went into exile in Flanders.<ref name=Stenton578>Stenton ''Anglo-Saxon England'' pp. 578–580</ref>}} Bị đe dọa bởi hạm đội của Harold, Tostig di chuyển về phía bắc và đột kích ở East Anglia và Lincolnshire, nhưng anh ta bị các anh em Edwin, Earl of Mercia và Morcar, Earl of Northumbria quay trở lại tàu của mình. Bị bỏ rơi bởi hầu hết những người theo ông, Tostig rút về Scotland, nơi ông đã dành cả mùa hè để tuyển mộ lực lượng mới.<ref name="Harold144">Walker ''Harold'' pp. 144–145</ref>{{efn|The King of Scotland, [[Malcolm III of Scotland|Malcolm III]], is said to have been Tostig's sworn brother.<ref name=Stenton578/>}}  Vua Harold đã trải qua mùa hè ở bờ biển phía nam với một đội quân lớn và hạm đội đang chờ William xâm chiếm, nhưng phần lớn lực lượng của ông là dân quân cần thu hoạch mùa màng của họ, vì vậy vào ngày 8 tháng 9, Harold đã loại bỏ họ.<ref name="Harold145">Walker ''Harold'' pp. 144–150</ref>

Hardrada xâm chiếm miền bắc nước Anh vào đầu tháng 9, dẫn đầu một hạm đội gồm hơn 300 tàu chở khoảng 15.000 người. Quân đội của Harald được tăng cường hơn nữa bởi các lực lượng của Tostig, người đã ném sự ủng hộ của ông đằng sau sự trả giá của nhà vua Na Uy cho ngai vàng. Tiến vào York, người Na Uy đã đánh bại một đội quân miền bắc nước Anh dưới thời Edwin và Morcar vào ngày 20 tháng 9 tại [[Trận Fulford]].<ref name="Harold154">Walker ''Harold'' pp. 154–158</ref> Hai bá tước đã vội vã tham gia vào lực lượng Na Uy trước khi Harold có thể đến từ phía nam. Mặc dù Harold Godwinson đã kết hôn với chị gái của Edwin và Morcar là Ealdgyth, hai bá tước có thể đã không tin tưởng Harold và sợ rằng nhà vua sẽ thay thế Morcar bằng Tostig. Kết quả cuối cùng là lực lượng của họ bị tàn phá và không thể tham gia vào các chiến dịch còn lại của năm 1066, mặc dù hai bá tước vẫn sống sót sau trận chiến.<ref name="Marren65">Marren ''1066'' pp. 65–71</ref>

Hardrada chuyển đến York, nơi đầu hàng anh ta. Sau khi bắt con tin từ những người đàn ông hàng đầu của thành phố, vào ngày 24 tháng 9, người Na Uy di chuyển về phía đông đến ngôi làng nhỏ bé Stamford Bridge.<ref name="Marren73">Marren ''1066'' p. 73</ref> Vua Harold có lẽ đã biết về cuộc xâm lược của Na Uy vào giữa tháng 9 và xông lên phía bắc, tập hợp lực lượng khi ông đi.<ref name="Harold158">Walker ''Harold'' pp. 158–165</ref>Các lực lượng hoàng gia có lẽ phải mất chín ngày để bao quát khoảng cách từ London đến York, trung bình gần 25 chiếc (40 kilômét) mỗi ngày. Vào rạng sáng ngày 25 tháng 9, lực lượng của Harold tới York, nơi anh biết được vị trí của người Na Uy.<ref name="Marren74">Marren ''1066'' pp. 74–75</ref> Người Anh sau đó đã hành quân vào những kẻ xâm lược và lấy chúng một cách bất ngờ, đánh bại họ trong [[Trận Stamford Bridge]]. Harald của Na Uy và Tostig đã bị giết, và người Na Uy phải chịu những tổn thất khủng khiếp đến nỗi chỉ có 24 trong số 300 tàu ban đầu được yêu cầu mang đi những người sống sót. Chiến thắng của người Anh là tốn kém, tuy nhiên, vì quân đội của Harold bị bỏ lại trong tình trạng bị đánh đập và suy yếu, và cách xa Kênh Anh.<ref name="Harold158" />

== Cuộc xâm lược của người Norman ==

=== Chuẩn bị và lực lượng Norman ===
William tập hợp một hạm đội xâm lược lớn và một đội quân tập hợp từ Normandy và khắp nước Pháp, bao gồm các đội quân lớn từ [[Bretagne|Brittany]] và Flanders.<ref name="Bates79">Bates ''William the Conqueror'' pp. 79–89</ref> Anh ta tập hợp lực lượng của mình tại [[Saint-Valery-sur-Somme]] và sẵn sàng vượt qua Kênh vào khoảng ngày 12 tháng 8.<ref name="Douglas192">Douglas ''William the Conqueror'' p. 192</ref>Con số chính xác và thành phần lực lượng của William vẫn chưa được biết.<ref name="Gravett20">Gravett ''Hastings'' pp. 20–21</ref> Một tài liệu hiện đại cho rằng William có 726 tàu, nhưng đây có thể là một con số bị thổi phồng.<ref name="Bennett25">Bennett ''Campaigns of the Norman Conquest'' p. 25</ref> Số liệu được đưa ra bởi các nhà văn đương đại rất phóng đại, dao động từ 14.000 đến 150.000 người.<ref name="Lawson163">Lawson ''Battle of Hastings'' pp. 163–164</ref> Các nhà sử học hiện đại đã đưa ra một loạt các ước tính cho quy mô lực lượng của William: 7000 người8000, 1000 người 2000 kỵ binh; 10.000 người 12.00012.000 người;<ref name="Lawson163" /> 10.000 người, 3000 kỵ binh;<ref name="Marren89">Marren ''1066'' pp. 89–90</ref> hoặc 7500 nam giới.<ref name="Gravett20" /> Quân đội sẽ bao gồm một đội kỵ binh, bộ binh, và cung thủ hoặc nỏ, với số lượng kỵ binh và cung thủ tương đương với số lượng binh sĩ tương đương với hai loại khác cộng lại.<ref name="Gravett27">Gravett ''Hastings'' p. 27</ref> Mặc dù các danh sách đồng hành sau này của William Kẻ Chinh phạt vẫn còn tồn tại, hầu hết đều được thêm vào các tên phụ; chỉ có khoảng 35 cá nhân có thể được tuyên bố là đáng tin cậy khi ở cùng với William tại Hastings.<ref name="Gravett20" /><ref name="Marren108">Marren ''1066'' pp. 108–109</ref>{{efn|Of those 35, 5 are known to have died in the battle&nbsp;– Robert of Vitot, Engenulf of Laigle, Robert fitzErneis, Roger son of Turold, and Taillefer.<ref name=Marren107>Marren ''1066'' pp. 107–108</ref>}}

William xứ Poitiers tuyên bố rằng William có được sự đồng ý của [[Giáo hoàng Alexanđê II|Giáo hoàng Alexander II]] cho cuộc xâm lược, được biểu thị bằng một biểu ngữ của giáo hoàng, cùng với sự hỗ trợ ngoại giao từ các nhà cai trị châu Âu khác. Mặc dù Alexander đã chấp thuận cho giáo hoàng về cuộc chinh phạt sau khi nó thành công, nhưng không có nguồn nào khác tuyên bố ủng hộ giáo hoàng trước cuộc xâm lược.{{efn|The [[Bayeux Tapestry]] may possibly depict a papal banner carried by William's forces, but this is not named as such in the tapestry.<ref name=Huscroft120/>}} Quân đội của William tập hợp trong suốt mùa hè trong khi một hạm đội xâm lược ở Normandy được xây dựng. Mặc dù quân đội và hạm đội đã sẵn sàng vào đầu tháng 8, những cơn gió bất lợi đã giữ các con tàu ở Normandy cho đến cuối tháng 9. Có lẽ có những lý do khác cho sự chậm trễ của William, bao gồm các báo cáo tình báo từ Anh tiết lộ rằng lực lượng của Harold đã được triển khai dọc theo bờ biển. William sẽ thích trì hoãn cuộc xâm lược cho đến khi anh ta có thể hạ cánh không bị ngăn cản.<ref name="Huscroft120">Huscroft ''Norman Conquest'' pp. 120–123</ref>

=== Cuộc đổ bộ và diễu hành về phía nam của Harold ===
[[File:BayeuxTapestryScene39.jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:BayeuxTapestryScene39.jpg|trái|nhỏ|Hạ cánh ở Anh trong cảnh từ thảm Bayeux, mô tả các tàu đến và hạ cánh ngựa]]
Người Norman đã vượt qua Anh vài ngày sau chiến thắng của Harold trước người Na Uy tại Stamford Bridge vào ngày 25 tháng 9, sau sự phân tán của lực lượng hải quân của Harold. Họ hạ cánh tại Pevensey ở Sussex vào ngày 28 tháng 9 và dựng lên một lâu đài bằng gỗ ở Hastings, từ đó họ đột kích khu vực xung quanh.<ref name="Bates79" /> Điều này đảm bảo nguồn cung cấp cho quân đội, và khi Harold và gia đình anh ta nắm giữ nhiều vùng đất trong khu vực, nó làm suy yếu đối thủ của William và khiến anh ta có nhiều khả năng tấn công để chấm dứt cuộc đột kích.<ref name="Marren98">Marren ''1066'' p. 98</ref>

Harold, sau khi đánh bại anh trai Tostig và Harald Hardrada ở phía bắc, đã để lại phần lớn lực lượng của mình ở đó, bao gồm Morcar và Edwin, và diễu hành phần còn lại của quân đội về phía nam để đối phó với cuộc xâm lược của Norman bị đe dọa.<ref name="Carpenter72">Carpenter ''Struggle for Mastery'' p. 72</ref>Không rõ khi nào Harold biết về cuộc đổ bộ của William, nhưng có lẽ là trong khi anh ta đi du lịch về phía nam. Harold dừng lại ở Luân Đôn khoảng một tuần trước khi đến Hastings, vì vậy có khả năng anh ta đã mất một tuần thứ hai để hành quân về phía nam, trung bình {{convert|27|mi|km|abbr=off}} mỗi ngày,<ref name="Marren93">Marren ''1066'' p. 93</ref> cho gần {{convert|200|mi|km|abbr=off}} đến Luân Đôn.<ref name="Huscroft124">Huscroft ''Norman Conquest'' p. 124</ref> Mặc dù Harold đã cố gắng gây bất ngờ cho người Norman, các trinh sát của William đã báo cáo việc người Anh đến công tước. Các sự kiện chính xác trước trận chiến vẫn còn mù mờ, với các tài khoản mâu thuẫn trong các nguồn, nhưng tất cả đều đồng ý rằng William đã dẫn dắt quân đội của mình từ lâu đài của mình và tiến về phía kẻ thù.<ref name="Lawson180">Lawson ''Battle of Hastings'' pp. 180–182</ref>Harold đã chiếm một vị trí phòng thủ trên đỉnh đồi Senlac (ngày nay là Battle, [[Đông Sussex]]), cách 6 dặm (10 kilômét) từ lâu đài của William tại Hastings.<ref name="Marren99">Marren ''1066'' pp. 99–100</ref>

Contemporary sources do not give reliable data on the size and composition of Harold's army, although two Norman sources give figures of 1.2&nbsp;million or 400,000 men.<ref name="Lawson128">Lawson ''Battle of Hastings'' p. 128</ref> Recent historians have suggested figures of between 5000 and 13,000 for Harold's army at Hastings,<ref name="Lawson130">Lawson ''Battle of Hastings'' pp. 130–133</ref> but most agree on a range of between 7000 and 8000 English troops.<ref name="Gravett28">Gravett ''Hastings'' pp. 28–34</ref><ref name="Marren105">Marren ''1066'' p. 105</ref> These men would have comprised a mix of the ''[[:en:Fyrd|fyrd]]'' (militia mainly composed of foot soldiers) and the ''[[:en:Housecarls|housecarls]]'', or nobleman's personal troops, who usually also fought on foot. The main difference between the two types was in their armour; the ''housecarls'' used better protecting armour than that of the ''fyrd''. The English army does not appear to have had many archers, although some were present.<ref name="Gravett28" /> The identities of few of the Englishmen at Hastings are known; the most important were Harold's brothers [[:en:Gyrth|Gyrth]] and [[:en:Leofwine_Godwinson|Leofwine]].<ref name="Gravett20" /> About 18 other named individuals can reasonably be assumed to have fought with Harold at Hastings, including two other relatives.{{efn|Of these named persons, eight died in the battle&nbsp;– Harold, Gyrth, Leofwine, Godric the sheriff, Thurkill of Berkshire, Breme, and someone known only as "son of Helloc".<ref name=Marren107/>}}

=== Trận Hastings ===
{{Main|Trận Hastings}}
[[File:Bayeuxtapestrydeathofharold.jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Bayeuxtapestrydeathofharold.jpg|phải|nhỏ|Có khả năng đây là hình ảnh miêu tả cái chết của Harold từ Tấm thảm Bayeux]]
Trận chiến bắt đầu vào khoảng 9 giờ sáng ngày 14 tháng 10 năm 1066 và kéo dài cả ngày, nhưng trong khi một phác thảo rộng được biết đến, các sự kiện chính xác bị che khuất bởi các tài khoản mâu thuẫn trong các nguồn.<ref name="Huscroft126">Huscroft ''Norman Conquest'' p. 126</ref> Mặc dù số lượng ở mỗi bên có lẽ tương đương nhau, William có cả kỵ binh và bộ binh, bao gồm nhiều cung thủ, trong khi Harold chỉ có lính bộ binh và vài cung thủ.<ref name="Carpenter73">Carpenter ''Struggle for Mastery'' p. 73</ref> Những người lính Anh hình thành như một bức tường chắn dọc theo sườn núi, và lúc đầu hiệu quả đến mức quân đội của William bị ném trả với thương vong nặng nề. Một số quân đội Breton của William hoảng loạn và bỏ chạy, và một số quân đội Anh dường như đã truy đuổi các Bretons đang chạy trốn. Kỵ binh Norman sau đó tấn công và giết chết quân đội truy đuổi. Trong khi các Bretons đang chạy trốn, những tin đồn đã quét qua lực lượng Norman rằng công tước đã bị giết, nhưng William đã tập hợp quân đội của mình. Hai lần nữa người Norman thực hiện rút tiền giả, dụ dỗ người Anh truy đuổi và cho phép kỵ binh Norman tấn công họ liên tục.<ref name="Huscroft127">Huscroft ''Norman Conquest'' pp. 127–128</ref> Các nguồn có sẵn bị nhầm lẫn nhiều hơn về các sự kiện vào buổi chiều, nhưng có vẻ như sự kiện quyết định là cái chết của Harold, về những câu chuyện khác nhau được kể. William xứ Jumieges tuyên bố rằng Harold đã bị giết bởi công tước. Tấm thảm Bayeux đã được tuyên bố là cho thấy cái chết của Harold bằng một mũi tên vào mắt, nhưng đây có thể là việc làm lại tấm thảm sau đó để phù hợp với những câu chuyện từ thế kỷ 12 mà Harold đã chết vì vết thương ở đầu mũi tên.<ref name="Huscroft129">Huscroft ''Norman Conquest'' p. 129</ref> Các nguồn tin khác tuyên bố rằng không ai biết Harold đã chết như thế nào vì sức ép của trận chiến quá chặt chẽ quanh nhà vua đến nỗi những người lính không thể nhìn thấy ai đã giáng đòn chí mạng.<ref name="Marren137">Marren ''1066'' p. 137</ref> William xứ Poitiers không đưa ra thông tin chi tiết nào về cái chết của Harold.<ref name="Gravett77">Gravett ''Hastings'' p. 77</ref>

=== Hậu quả của Hastings ===
The day after the battle, Harold's body was identified, either by his armour or marks on his body.{{efn|A 12th-century tradition stated that Harold's face could not be recognised and [[Edith the Fair]], Harold's [[Common-law marriage|common-law wife]], was brought to the battlefield to identify his body from marks that only she knew.<ref name=Gravett80>Gravett ''Hastings'' p. 80</ref>}} The bodies of the English dead, who included some of Harold's brothers and his ''housecarls'', were left on the battlefield,<ref name="Huscroft131">Huscroft ''Norman Conquest'' p. 131</ref> although some were removed by relatives later.<ref name="Gravett81">Gravett ''Hastings'' p. 81</ref> [[:en:Gytha_Thorkelsdóttir|Gytha]], Harold's mother, offered the victorious duke the weight of her son's body in gold for its custody, but her offer was refused. William ordered that Harold's body be thrown into the sea, but whether that took place is unclear.<ref name="Huscroft131" /> Another story relates that Harold was buried at the top of a cliff.<ref name="Marren146">Marren ''1066'' p. 146</ref> [[:en:Waltham_Abbey_(abbey)|Waltham Abbey]], which had been founded by Harold, later claimed that his body had been buried there secretly.<ref name="Huscroft131" /> Later legends claimed that Harold did not die at Hastings, but escaped and became a hermit at Chester.<ref name="Gravett81" />

After his victory at Hastings, William expected to receive the submission of the surviving English leaders, but instead [[:en:Edgar_the_Ætheling|Edgar the Ætheling]]{{efn|Ætheling is the Anglo-Saxon term for a royal prince with some claim to the throne.<ref name=Bennett91>Bennett ''Campaigns of the Norman Conquest'' p. 91</ref>}} was proclaimed king by the Witenagemot, with the support of Earls Edwin and Morcar, Stigand, the Archbishop of Canterbury, and Ealdred, the Archbishop of York.<ref name="Douglas204">Douglas ''William the Conqueror'' pp. 204–205</ref> William therefore advanced, marching around the coast of [[:en:Kent|Kent]] to London. He defeated an English force that [[:en:Burning_of_Southwark|attacked him at Southwark]], but being unable to storm [[:en:London_Bridge|London Bridge]] he sought to reach the capital by a more circuitous route.<ref name="Douglas205">Douglas ''William the Conqueror'' pp. 205–206</ref>

William moved up the [[:en:Thames|Thames]] valley to cross the river at [[:en:Wallingford,_Oxfordshire|Wallingford]], Berkshire; while there he received the submission of Stigand. He then travelled north-east along the [[:en:Chilterns|Chilterns]], before advancing towards London from the north-west, fighting further engagements against forces from the city. Having failed to muster an effective military response, Edgar's leading supporters lost their nerve, and the English leaders surrendered to William at [[:en:Berkhamsted|Berkhamsted]], Hertfordshire. William was acclaimed King of England and crowned by Ealdred on 25 December 1066, in [[:en:Westminster_Abbey|Westminster Abbey]].<ref name="Douglas205" />{{efn|The coronation was marred when the Norman troops stationed outside the abbey heard the sounds of those inside acclaiming the king and began burning nearby houses, thinking the noises were signs of a riot.<ref name=Gravett84>Gravett ''Hastings'' p. 84</ref>}} The new king attempted to conciliate the remaining English nobility by confirming Morcar, Edwin and [[:en:Waltheof,_Earl_of_Northumbria|Waltheof, the Earl of Northumbria]], in their lands as well as giving some land to Edgar the Ætheling. William remained in England until March 1067, when he returned to Normandy with English prisoners, including Stigand, Morcar, Edwin, Edgar the Ætheling, and Waltheof.<ref name="Huscroft138">Huscroft ''Norman Conquest'' pp. 138–139</ref>

== Kháng chiến của bên Anh ==

=== Cuộc nổi loạn đầu tiên ===
Despite the submission of the English nobles, resistance continued for several years.<ref name="Douglas212">Douglas ''William the Conqueror'' p. 212</ref> William left control of England in the hands of his half-brother [[:en:Bishop_Odo|Odo]] and one of his closest supporters, [[:en:William_fitzOsbern|William fitzOsbern]].<ref name="Huscroft138" /> In 1067 rebels in Kent launched an unsuccessful attack on Dover Castle in combination with [[:en:Eustace_II_of_Boulogne|Eustace II of Boulogne]].<ref name="Douglas212" /> The [[:en:Shropshire|Shropshire]] landowner [[:en:Eadric_the_Wild|Eadric the Wild]],{{efn|Eadric's [[Epithet|by-name]] "the Wild" is relatively common, so despite suggestions that it arose from Eadric's participation in the northern uprisings of 1069, this is not certain.<ref name=EadricDNB>Williams "Eadric the Wild" ''Oxford Dictionary of National Biography''</ref>}} in alliance with the Welsh rulers of [[:en:Gwynedd|Gwynedd]] and [[:en:Powys|Powys]], raised a revolt in western [[:en:Mercia|Mercia]], fighting Norman forces based in [[:en:Hereford|Hereford]].<ref name="Douglas212" /> These events forced William to return to England at the end of 1067.<ref name="Huscroft138" /> In 1068 William [[:en:Siege_of_Exeter_(1068)|besieged rebels in Exeter]], including Harold's mother Gytha, and after suffering heavy losses managed to negotiate the town's surrender.<ref name="Harold186">Walker ''Harold'' pp. 186–190</ref> In May, William's wife [[:en:Matilda_of_Flanders|Matilda]] was crowned queen at Westminster, an important symbol of William's growing international stature.<ref name="Huscroft1402">Huscroft ''Norman Conquest'' pp. 140–141</ref> Later in the year Edwin and Morcar raised a revolt in Mercia with Welsh assistance, while [[:en:Gospatric,_Earl_of_Northumbria|Gospatric]], the newly appointed Earl of Northumbria,{{efn|Gospatric had bought the office from William after the death of [[Copsi]], whom William had appointed in 1067. Copsi was murdered in 1068 by [[Osulf II of Bamburgh|Osulf]], his rival for power in Northumbria.<ref name=Huscroft142>Huscroft ''Norman Conquest'' pp. 142–144</ref>}} led a rising in Northumbria, which had not yet been occupied by the Normans. These rebellions rapidly collapsed as William moved against them, building castles and installing garrisons as he had already done in the south.<ref name="Douglas214">Douglas ''William the Conqueror'' pp. 214–215</ref> Edwin and Morcar again submitted, while Gospatric fled to Scotland, as did Edgar the Ætheling and his family, who may have been involved in these revolts.<ref name="Williams24">Williams ''English and the Norman Conquest'' pp. 24–27</ref> Meanwhile, Harold's sons, who had taken refuge in Ireland, raided [[:en:Somerset|Somerset]], Devon and [[:en:Cornwall|Cornwall]] from the sea.<ref name="Williams20">Williams ''English and the Norman Conquest'' pp. 20–21</ref>

=== Cuộc nổi dậy của 1069 ===
[[File:Baile_Hill,_York.JPG|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Baile_Hill,_York.JPG|trái|nhỏ|The remains of [[:en:Baile_Hill|Baile Hill]], the second [[:en:Motte-and-bailey_castle|motte-and-bailey castle]] built by William in York]]
Early in 1069 the newly installed Norman Earl of Northumbria, [[:en:Robert_de_Comines|Robert de Comines]], and several hundred soldiers accompanying him were massacred at Durham; the Northumbrian rebellion was joined by Edgar, Gospatric, [[:en:Siward_Barn|Siward Barn]] and other rebels who had taken refuge in Scotland. The castellan of York, Robert fitzRichard, was defeated and killed, and the rebels besieged the Norman castle at York. William hurried north with an army, defeated the rebels outside York and pursued them into the city, massacring the inhabitants and bringing the revolt to an end.<ref name="Williams27">Williams ''English and the Norman Conquest'' pp. 27–34</ref> He built a second castle at York, strengthened Norman forces in Northumbria and then returned south. A subsequent local uprising was crushed by the garrison of York.<ref name="Williams27" /> Harold's sons launched a second raid from Ireland and were defeated in Devon by Norman forces under Count [[:en:Brian_of_Brittany|Brian]], a son of [[:en:Eudes,_Count_of_Penthièvre|Eudes, Count of Penthièvre]].<ref name="Williams35">Williams ''English and the Norman Conquest'' p. 35</ref> In August or September 1069 a large fleet sent by [[:en:Sweyn_II_of_Denmark|Sweyn II of Denmark]] arrived off the coast of England, sparking a new wave of rebellions across the country. After abortive raids in the south, the Danes joined forces with a new Northumbrian uprising, which was also joined by Edgar, Gospatric and the other exiles from Scotland as well as Waltheof. The combined Danish and English forces defeated the Norman garrison at York, seized the castles and took control of Northumbria, although a raid into Lincolnshire led by Edgar was defeated by the Norman garrison of [[:en:Lincoln,_England|Lincoln]].<ref name="Williams35a">Williams ''English and the Norman Conquest'' pp. 35–41</ref>

At the same time resistance flared up again in western Mercia, where the forces of Eadric the Wild, together with his Welsh allies and further rebel forces from [[:en:Cheshire|Cheshire]] and Shropshire, attacked the castle at [[:en:Shrewsbury|Shrewsbury]]. In the south-west, rebels from Devon and Cornwall attacked the Norman garrison at Exeter but were repulsed by the defenders and scattered by a Norman relief force under Count Brian. Other rebels from [[:en:Dorset|Dorset]], Somerset and neighbouring areas besieged [[:en:Montacute_Castle|Montacute Castle]] but were defeated by a Norman army gathered from London, [[:en:Winchester|Winchester]] and [[:en:Salisbury|Salisbury]] under [[:en:Geoffrey_de_Montbray|Geoffrey of Coutances]].<ref name="Williams35a" /> Meanwhile, William attacked the Danes, who had moored for the winter south of the Humber in Lincolnshire, and drove them back to the north bank. Leaving [[:en:Robert_of_Mortain|Robert of Mortain]] in charge of Lincolnshire, he turned west and defeated the Mercian rebels in battle at [[:en:Stafford|Stafford]]. When the Danes attempted to return to Lincolnshire, the Norman forces there again drove them back across the Humber. William advanced into Northumbria, defeating an attempt to block his crossing of the swollen [[:en:River_Aire|River Aire]] at [[:en:Pontefract|Pontefract]]. The Danes fled at his approach, and he occupied York. He bought off the Danes, who agreed to leave England in the spring, and during the winter of 1069–70 his forces systematically devastated Northumbria in the [[:en:Harrying_of_the_North|Harrying of the North]], subduing all resistance.<ref name="Williams35a" /> As a symbol of his renewed authority over the north, William ceremonially wore his crown at York on Christmas Day 1069.

In early 1070, having secured the submission of Waltheof and Gospatric, and driven Edgar and his remaining supporters back to Scotland, William returned to Mercia, where he based himself at Chester and crushed all remaining resistance in the area before returning to the south.<ref name="Williams35a" /> [[:en:Papal_legate|Papal legates]] arrived and at Easter re-crowned William, which would have symbolically reasserted his right to the kingdom. William also oversaw a purge of prelates from the Church, most notably Stigand, who was deposed from Canterbury. The papal legates also imposed [[:en:Penance|penances]] on William and those of his supporters whfo had taken part in Hastings and the subsequent campaigns.<ref name="Huscroft145">Huscroft ''Norman Conquest'' pp. 145–146</ref> As well as Canterbury, the [[:en:See_of_York|see of York]] had become vacant following the death of Ealdred in September 1069. Both sees were filled by men loyal to William: [[:en:Lanfranc|Lanfranc]], abbot of William's foundation at [[:en:Abbey_of_Saint-Étienne,_Caen|Caen]], received Canterbury while [[:en:Thomas_of_Bayeux|Thomas of Bayeux]], one of William's chaplains, was installed at York. Some other bishoprics and abbeys also received new bishops and abbots and William confiscated some of the wealth of the English monasteries, which had served as repositories for the assets of the native nobles.<ref name="Bennett56">Bennett ''Campaigns of the Norman Conquest'' p. 56</ref>

=== Rắc rối từ bên Đan Mạch ===
[[File:Coin_king_of_denmark_sven_estridsen.jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Coin_king_of_denmark_sven_estridsen.jpg|phải|nhỏ|Coin of Sweyn II of Denmark]]
In 1070 Sweyn II of Denmark arrived to take personal command of his fleet and renounced the earlier agreement to withdraw, sending troops into [[:en:The_Fens|the Fens]] to join forces with English rebels led by [[:en:Hereward_the_Wake|Hereward the Wake]],{{efn|Although the [[epithet]] "the Wake" has been claimed to be derived from "the wakeful one", the first use of the epithet is from the mid-13th century, and is thus unlikely to have been contemporary.<ref name=HerewardDNB>Roffe "Hereward" ''Oxford Dictionary of National Biography''</ref>}} at that time based on the [[:en:Isle_of_Ely|Isle of Ely]]. Sweyn soon accepted a further payment of [[:en:Danegeld|Danegeld]] from William, and returned home.<ref name="Douglas221">Douglas ''William the Conqueror'' pp. 221–222</ref> After the departure of the Danes the Fenland rebels remained at large, protected by the marshes, and early in 1071 there was a final outbreak of rebel activity in the area. Edwin and Morcar again turned against William, and although Edwin was quickly betrayed and killed, Morcar reached [[:en:Ely,_Cambridgeshire|Ely]], where he and Hereward were joined by exiled rebels who had sailed from Scotland. William arrived with an army and a fleet to finish off this last pocket of resistance. After some costly failures the Normans managed to construct a pontoon to reach the Isle of Ely, defeated the rebels at the bridgehead and stormed the island, marking the effective end of English resistance.<ref name="Williams49">Williams ''English and the Norman Conquest'' pp. 49–57</ref> Morcar was imprisoned for the rest of his life; Hereward was pardoned and had his lands returned to him.<ref name="Huscroft146">Huscroft ''Norman Conquest'' pp. 146–147</ref>

=== Kháng chiến cuối cùng ===
William faced difficulties in his continental possessions in 1071,<ref name="Douglas225">Douglas ''William the Conqueror'' pp. 225–226</ref> but in 1072 he returned to England and marched north to confront King [[:en:Malcolm_III_of_Scotland|Malcolm III of Scotland]].{{efn|Malcolm, in 1069 or 1070, had married [[Saint Margaret of Scotland|Margaret]], sister of Edgar the Ætheling.<ref name=Huscroft142/>}} This campaign, which included a land army supported by a fleet, resulted in the [[:en:Treaty_of_Abernethy|Treaty of Abernethy]] in which Malcolm expelled Edgar the Ætheling from Scotland and agreed to some degree of subordination to William.<ref name="Huscroft146" /> The exact status of this subordination was unclear&nbsp;– the treaty merely stated that Malcolm became William's man. Whether this meant only for Cumbria and Lothian or for the whole Scottish kingdom was left ambiguous.<ref name="Douglas227">Douglas ''William the Conqueror'' p. 227</ref>

In 1075, during William's absence, [[:en:Ralph_de_Gael|Ralph de Gael]], the [[:en:Earl_of_Norfolk|Earl of Norfolk]], and [[:en:Roger_de_Breteuil,_2nd_Earl_of_Hereford|Roger de Breteuil]] the [[:en:Earl_of_Hereford|Earl of Hereford]], conspired to overthrow him in the [[:en:Revolt_of_the_Earls|Revolt of the Earls]].<ref name="Douglas231">Douglas ''William the Conqueror'' pp. 231–233</ref> The exact reason for the rebellion is unclear, but it was launched at the wedding of Ralph to a relative of Roger's, held at [[:en:Exning|Exning]]. Another earl, Waltheof, despite being one of William's favourites, was also involved, and some Breton lords were ready to offer support. Ralph also requested Danish aid. William remained in Normandy while his men in England subdued the revolt. Roger was unable to leave his stronghold in Herefordshire because of efforts by [[:en:Wulfstan_(died_1095)|Wulfstan]], the [[:en:Bishop_of_Worcester|Bishop of Worcester]], and [[:en:Æthelwig|Æthelwig]], the [[:en:Abbot_of_Evesham|Abbot of Evesham]]. Ralph was bottled up in [[:en:Norwich_Castle|Norwich Castle]] by the combined efforts of Odo of Bayeux, Geoffrey of Coutances, [[:en:Richard_fitz_Gilbert|Richard fitzGilbert]], and [[:en:William_de_Warenne,_1st_Earl_of_Surrey|William de Warenne]]. Norwich was besieged and surrendered, and Ralph went into exile. Meanwhile, the Danish king's brother, [[:en:Canute_IV_of_Denmark|Cnut]], had finally arrived in England with a fleet of 200 ships, but he was too late as Norwich had already surrendered. The Danes then raided along the coast before returning home.<ref name="Douglas231" /> William did not return to England until later in 1075, to deal with the Danish threat and the aftermath of the rebellion, celebrating Christmas at Winchester.<ref name="Bates181">Bates ''William the Conqueror'' pp. 181–182</ref> Roger and Waltheof were kept in prison, where Waltheof was executed in May 1076. By that time William had returned to the continent, where Ralph was continuing the rebellion from Brittany.<ref name="Douglas231" />

== Kiểm soát nước Anh ==
[[File:Londres_297..jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Londres_297..jpg|trái|nhỏ|The [[:en:Tower_of_London|Tower of London]], originally begun by William the Conqueror to control London<ref name="Douglas216">Douglas ''William the Conqueror'' p. 216 and footnote 4</ref>]]
Một khi nước Anh đã bị chinh phục, người Norman phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc duy trì sự kiểm soát.<ref name="Stafford102">Stafford ''Unification and Conquest'' pp. 102–105</ref> Họ ít về số lượng so với dân số tiếng Anh bản địa; bao gồm cả những người từ các vùng khác của Pháp, các nhà sử học ước tính số lượng chủ đất Norman vào khoảng 8000.<ref name="Mastery82">Carpenter ''Struggle for Mastery'' pp. 82–83</ref> Những người theo William đã mong đợi và nhận được các vùng đất và danh hiệu để đổi lấy sự phục vụ của họ trong cuộc xâm lược<ref name="Mastery79">Carpenter ''Struggle for Mastery'' pp. 79–80</ref> nhưng William tuyên bố quyền sở hữu cuối cùng đối với vùng đất ở Anh mà quân đội của anh ta đã trao cho anh ta quyền kiểm soát trên thực tế và khẳng định quyền định đoạt nó khi anh ta thấy phù hợp.<ref name="Mastery84">Carpenter ''Struggle for Mastery'' p. 84</ref> Do đó, tất cả đất đai được "giữ" trực tiếp từ nhà vua trong nhiệm kỳ phong kiến để đổi lấy nghĩa vụ quân sự.<ref name="Mastery84" /> Một lãnh chúa Norman thường có tài sản rải rác khắp nước Anh và Normandy, và không nằm trong một khối địa lý duy nhất.<ref name="Mastery83">Carpenter ''Struggle for Mastery'' pp. 83–84</ref>

Để tìm những vùng đất để đền bù cho những người theo Norman, William ban đầu đã tịch thu tài sản của tất cả các lãnh chúa Anh đã chiến đấu và chết cùng với Harold và phân chia lại một phần đất đai của họ.<ref name="Mastery75">Carpenter ''Struggle for Mastery'' pp. 75–76</ref> Những vụ tịch thu này đã dẫn đến các cuộc nổi dậy, dẫn đến nhiều vụ tịch thu hơn, một chu kỳ tiếp diễn trong năm năm sau [[Trận Hastings]].<ref name="Mastery79" /> Để hạ bệ và ngăn chặn các cuộc nổi loạn tiếp theo, người Norman đã xây dựng các lâu đài và công sự với số lượng lớn chưa từng thấy,<ref name="Chibnall11">Chibnall ''Anglo-Norman England'' pp. 11–13</ref>ban đầu chủ yếu trên mô hình motte-và-bailey.<ref name="Forts110">Kaufman and Kaufman ''Medieval Fortress'' p. 110</ref> Nhà sử học Robert Liddiard nhận xét rằng "nhìn lướt qua cảnh quan đô thị của thành phố Norwich, Durham hay Lincoln là phải nhắc nhở về tác động của cuộc xâm lược của người Norman".<ref>Liddiard ''Castles in Context'' p. 36</ref>William và các nam tước của ông cũng thực hiện kiểm soát chặt chẽ hơn đối với việc thừa kế tài sản của các góa phụ và con gái, thường buộc các cuộc hôn nhân với người Norman.<ref name="Mastery89">Carpenter ''Struggle for Mastery'' p. 89</ref>

Một thước đo thành công của William trong việc nắm quyền kiểm soát là, từ năm 1072 cho đến khi chinh phục Capetian ở Normandy năm 1204, William và những người kế vị của ông chủ yếu là những người cai trị vắng mặt. Chẳng hạn, sau năm 1072, William dành hơn 75% thời gian ở Pháp thay vì Anh. Trong khi anh ta cần phải có mặt cá nhân ở Normandy để bảo vệ vương quốc khỏi sự xâm lược của nước ngoài và dập tắt các cuộc nổi dậy nội bộ, anh ta đã thiết lập các cấu trúc hành chính hoàng gia cho phép anh ta cai trị nước Anh từ xa.<ref name="Mastery91">Carpenter ''Struggle for Mastery'' p. 91</ref>

== Hệ quả ==

=== Thay thế giới thượng lưu ===
Một hậu quả trực tiếp của cuộc xâm lược là loại bỏ gần như toàn bộ tầng lớp quý tộc Anh cũ và mất quyền kiểm soát người Anh đối với [[Giáo hội Công giáo Rôma|Giáo hội Công giáo]] ở Anh. William từ chối một cách có hệ thống các chủ sở hữu người Anh và trao tài sản của họ cho những người theo lục địa của mình. Cuốn sách Domesday ghi lại một cách tỉ mỉ tác động của chương trình chiếm quyền khổng lồ này, cho thấy vào năm 1086, chỉ có khoảng 5% đất đai ở Anh phía nam của Tees bị bỏ lại trong tay tiếng Anh. Ngay cả dư lượng nhỏ bé này đã bị giảm dần trong những thập kỷ sau đó, việc loại bỏ quyền sở hữu bản địa là hoàn thiện nhất ở các vùng phía nam của đất nước.<ref>Thomas ''English and Normans'' pp. 105–137</ref><ref>Thomas "Significance" ''English Historical Review'' pp. 303–333</ref>

Người bản địa cũng bị loại khỏi chính phủ và giáo hội cao. Sau năm 1075, tất cả các lãnh địa của bá tước đều do người Norman nắm giữ và người Anh chỉ thỉnh thoảng được bổ nhiệm làm cảnh sát trưởng. Tương tự như vậy trong Giáo hội, những người giữ văn phòng cao cấp ở Anh hoặc bị trục xuất khỏi vị trí của họ hoặc giữ nguyên vị trí của họ và được thay thế bởi người nước ngoài khi họ chết. Vào năm 1096, không có giám mục nào được nắm giữ bởi bất kỳ người Anh nào, và các tu viện của Anh trở nên không phổ biến, đặc biệt là trong các tu viện lớn hơn.<ref>Thomas ''English and Normans'' pp. 202–208</ref>

=== Các cuộc di cư của người Anh ===
[[File:The_body_of_Leo_V_is_dragged_to_the_Hippodrome_through_the_Skyla_Gate.jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:The_body_of_Leo_V_is_dragged_to_the_Hippodrome_through_the_Skyla_Gate.jpg|phải|nhỏ|Miêu tả của người bảo vệ Varangian từ [[Madrid Skylitzes]] thế kỷ 12]]
Sau cuộc chinh phạt, nhiều người Anglo-Saxon, bao gồm các nhóm quý tộc, đã trốn khỏi đất nước<ref name="Byzantium">Ciggaar ''Western Travellers'' pp. 140–141</ref> đến Scotland, Ireland hoặc Scandinavia.<ref name="Daniell">Daniell ''From Norman Conquest to Magna Carta'' pp. 13–14</ref> Các thành viên của gia đình vua Harold Godwinson đã tìm nơi ẩn náu ở Ireland và sử dụng các căn cứ của họ ở đất nước đó để xâm chiếm nước Anh nhưng không thành công.<ref name="Huscroft140">Huscroft ''Norman Conquest'' pp. 140–141</ref> Cuộc di cư lớn nhất xảy ra vào những năm 1070, khi một nhóm người Anglo-Saxons trong một hạm đội gồm 235 chiếc tàu đi đến [[Đế quốc Đông La Mã|Đế quốc Byzantine]].<ref name="Daniell" /> Đế quốc trở thành một điểm đến phổ biến đối với nhiều quý tộc và binh lính Anh, vì Byzantine đang cần lính đánh thuê.<ref name="Byzantium" />Người Anh trở thành yếu tố chiếm ưu thế trong Lực lượng bảo vệ Varangian ưu tú, cho đến lúc đó một đơn vị chủ yếu là người Scandinavi, từ đó vệ sĩ của hoàng đế được rút ra.<ref>Heath ''Byzantine Armies'' p. 23</ref> Một số người di cư Anh đã định cư ở vùng biên giới Byzantine trên bờ [[Biển Đen]] và thành lập các thị trấn với những cái tên như New London và New York.<ref name="Byzantium" />

=== Hệ thống chính phủ ===
[[File:Map_of_England_1086.png|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Map_of_England_1086.png|phải|nhỏ|Các hạt của Anh vào năm 1086]]
Trước khi người Norman đến, các hệ thống chính phủ Anglo-Saxon tinh vi hơn so với các đối tác của họ ở Normandy.<ref name="Thomas59">Thomas ''Norman Conquest'' p. 59</ref><ref name="Conquest187">Huscroft ''Norman Conquest'' p. 187</ref> Toàn bộ nước Anh được chia thành các đơn vị hành chính được gọi là ''shires'', với các phân khu; tòa án hoàng gia là trung tâm của chính phủ và một hệ thống tư pháp dựa trên các tòa án địa phương và khu vực tồn tại để bảo đảm quyền của những người tự do.<ref name="Govern176">Loyn ''Governance of Anglo-Saxon England'' p. 176</ref> Shires được điều hành bởi các quan chức được gọi là shire reeves hoặc cảnh sát trưởng.<ref name="Thomas60">Thomas ''Norman Conquest'' p. 60</ref> Hầu hết các chính phủ thời trung cổ luôn luôn di chuyển, tổ chức tòa án bất cứ nơi nào thời tiết và thực phẩm hoặc các vấn đề khác là tốt nhất vào lúc này;<ref name="Conquest31">Huscroft ''Norman Conquest'' p. 31</ref> Nước Anh có một kho bạc vĩnh viễn tại [[Winchester]] trước cuộc chinh phạt của William.<ref name="Conquest194">Huscroft ''Norman Conquest'' pp. 194–195</ref> Một lý do chính cho sức mạnh của chế độ quân chủ Anh là sự giàu có của vương quốc, được xây dựng trên hệ thống thuế của Anh bao gồm thuế đất đai, hoặc công trình. Tiền đúc tiếng Anh cũng vượt trội so với hầu hết các loại tiền tệ khác được sử dụng ở tây bắc châu Âu, và khả năng đúc tiền là một sự độc quyền của hoàng gia.<ref name="Conquest36">Huscroft ''Norman Conquest'' pp. 36–37</ref> Các vị vua Anh cũng đã phát triển hệ thống phát hành các tác phẩm cho các quan chức của họ, bên cạnh thông lệ thời trung cổ thông thường là ban hành các hiến chương.<ref name="Conquest198">Huscroft ''Norman Conquest'' pp. 198–199</ref> Bài viết là hướng dẫn cho một quan chức hoặc một nhóm quan chức, hoặc thông báo về các hành động của hoàng gia như các cuộc hẹn đến văn phòng hoặc một khoản trợ cấp nào đó.<ref name="Writ">Keynes "Charters and Writs" ''Blackwell Encyclopaedia of Anglo-Saxon England'' p. 100</ref>
[[File:Domesday_book--w.jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Domesday_book--w.jpg|trái|nhỏ|Trang từ cuộc khảo sát Domesday của [[Warwickshire]]]]
Hình thức chính phủ thời trung cổ tinh vi này đã được bàn giao cho người Norman và là nền tảng của những phát triển tiếp theo.<ref name="Govern176" /> Họ giữ khuôn khổ chính phủ nhưng đã thay đổi nhân sự, mặc dù lúc đầu, vị vua mới đã cố gắng giữ một số người bản xứ tại chức. Vào cuối triều đại của William, hầu hết các quan chức của chính phủ và gia đình hoàng gia là người Norman. Ngôn ngữ của các tài liệu chính thức cũng thay đổi, từ [[tiếng Anh cổ]] sang tiếng Latin. Luật rừng đã được đưa ra, dẫn đến việc bỏ qua một phần lớn của nước Anh là rừng hoàng gia.<ref name="Thomas60" /> Cuộc khảo sát Domesday là một danh mục hành chính của các vùng đất của vương quốc, và là duy nhất cho châu Âu thời trung cổ. Nó được chia thành các phần dựa trên các ngọn lửa, và liệt kê tất cả các quyền sở hữu của từng người thuê của nhà vua cũng như những người đã giữ đất trước khi chinh phục.<ref name="Conquest200">Huscroft ''Norman Conquest'' pp. 200–201</ref>

=== Ngôn ngữ ===
Một trong những tác động rõ ràng nhất của cuộc chinh phạt là sự ra đời của Anglo-Norman, một phương ngữ miền Bắc của tiếng Pháp cổ với những ảnh hưởng hạn chế của Bắc Âu, là ngôn ngữ của các tầng lớp thống trị ở Anh, thay thế tiếng Anh cổ. Các từ [[Tiếng Norman|tiếng Pháp của người Norman]] đã đi vào ngôn ngữ tiếng Anh, và một dấu hiệu khác của sự thay đổi là việc sử dụng các tên phổ biến ở Pháp thay vì tên Anglo-Saxon. Những cái tên nam như William, Robert và Richard sớm trở nên phổ biến; tên nữ thay đổi chậm hơn. Cuộc xâm lược của Norman có ít tác động đến các địa danh, đã thay đổi đáng kể sau các cuộc xâm lược ở Scandinavia trước đó. Người ta không biết chính xác người Norman xâm lược đã học được bao nhiêu tiếng Anh, cũng như kiến thức về tiếng Pháp Norman lan truyền trong tầng lớp thấp hơn bao nhiêu, nhưng yêu cầu về thương mại và giao tiếp cơ bản có lẽ có nghĩa là ít nhất một số người Norman và tiếng Anh bản ngữ là song ngữ.<ref name="Conquest323">Huscroft ''Norman Conquest'' pp. 323–324</ref> Tuy nhiên, [[William I của Anh|William Kẻ chinh phạt]] không bao giờ phát triển kiến thức về tiếng Anh và trong nhiều thế kỷ sau đó, tiếng Anh không được giới quý tộc hiểu rõ.<ref>Crystal "Story of Middle English" ''English Language''</ref>

=== Nhập cư và kết hôn trong nước ===
Ước tính 8000 người Norman và những người ở lục địa khác định cư ở Anh là kết quả của cuộc chinh phạt, mặc dù con số chính xác không thể được thiết lập. Một số trong những cư dân mới này đã kết hợp với người Anh bản địa, nhưng mức độ thực hành này trong những năm ngay sau trận Hastings không rõ ràng. Một số cuộc hôn nhân được chứng thực giữa đàn ông Norman và phụ nữ Anh trong những năm trước năm 1100, nhưng những cuộc hôn nhân như vậy là không phổ biến. Hầu hết người Norman tiếp tục ký kết hôn nhân với người Norman khác hoặc các gia đình lục địa khác hơn là với người Anh.<ref name="Huscroft321">Huscroft ''Norman Conquest'' pp. 321–322</ref> Trong một thế kỷ của cuộc xâm lược, sự giao thoa giữa người Anh bản xứ và người nhập cư Norman đã trở nên phổ biến. Vào đầu những năm 1160, Ailred xứ Rievaulx đã viết rằng sự giao thoa là phổ biến trong tất cả các cấp của xã hội.<ref name="Thomas107">Thomas ''Norman Conquest'' pp. 107–109</ref>

=== Xã hội ===
[[File:Anglo-Saxon_village_at_West_Stow_6337_Keith_Evans.jpg|liên_kết=https://en.wikipedia.org/wiki/File:Anglo-Saxon_village_at_West_Stow_6337_Keith_Evans.jpg|phải|nhỏ|Tái thiết hiện đại của một ngôi làng Anglo-Saxon ở West Stow]]
Tác động của cuộc chinh phục đối với các cấp thấp hơn của xã hội Anh rất khó đánh giá. Sự thay đổi lớn là xóa bỏ chế độ nô lệ ở Anh, đã biến mất vào giữa thế kỷ thứ 12.<ref name="Huscroft327">Huscroft ''Norman Conquest'' p. 327</ref> Có khoảng 28.000 nô lệ được liệt kê trong Sách Domesday vào năm 1086, ít hơn số lượng đã được liệt kê vào năm 1066. Ở một số nơi, như Essex, sự suy giảm nô lệ là 20% trong 20 năm.<ref name="Clanchy93">Clanchy ''England and its Rulers'' p. 93</ref> Những lý do chính cho sự suy giảm quyền sở hữu nô lệ dường như là sự không chấp thuận của Giáo hội và chi phí hỗ trợ nô lệ, không giống như [[nông nô]], phải được duy trì hoàn toàn bởi chủ sở hữu của họ.<ref name="Ruling94">Huscroft ''Ruling England'' p. 94</ref> Việc thực hành chế độ nô lệ không bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, và ''Leges Henrici Primi'' từ thời vua Henry I tiếp tục đề cập đến việc chiếm hữu nô lệ là hợp pháp.<ref name="Clanchy93" />

Nhiều nông dân tự do của xã hội Anglo-Saxon dường như đã mất địa vị và trở nên không thể phân biệt được với các nông nô không tự do. Cho dù sự thay đổi này hoàn toàn là do cuộc chinh phục không rõ ràng, nhưng cuộc xâm lược và hậu quả của nó có thể đã đẩy nhanh quá trình đang diễn ra. Sự lan rộng của các thị trấn và gia tăng các khu định cư có hạt nhân ở nông thôn, thay vì các trang trại rải rác, có lẽ đã được đẩy nhanh khi người Norman đến Anh. Lối sống của nông dân có lẽ không thay đổi nhiều trong những thập kỷ sau năm 1066.<ref name="Huscroft329">Huscroft ''Norman Conquest'' p. 329</ref> Mặc dù các nhà sử học trước đó cho rằng phụ nữ trở nên ít tự do hơn và mất quyền với cuộc chinh phạt, học bổng hiện tại chủ yếu đã bác bỏ quan điểm này. Người ta biết rất ít về những người phụ nữ khác ngoài những người thuộc tầng lớp địa chủ, vì vậy không có kết luận nào về tình trạng phụ nữ nông dân sau năm 1066. Quý bà dường như tiếp tục ảnh hưởng đến đời sống chính trị chủ yếu thông qua các mối quan hệ họ hàng. Cả trước và sau năm 1066, phụ nữ quý tộc đều có thể sở hữu đất đai, và một số phụ nữ tiếp tục có khả năng định đoạt tài sản của họ như họ muốn.<ref name="Huscroft281">Huscroft ''Norman Conquest'' pp. 281–283</ref>

== Tranh cãi lịch sử ==
Cuộc tranh luận về cuộc chinh phục bắt đầu gần như ngay lập tức. ''[[Biên niên sử Anglo-Saxon]]'', khi thảo luận về cái chết của William the Conqueror, đã tố cáo ông và cuộc chinh phạt trong câu thơ, nhưng thông báo cáo phó của nhà vua từ William of Poitiers, một người Pháp, đã hết lời ca ngợi. Các nhà sử học kể từ đó đã tranh luận về các sự kiện của vấn đề và làm thế nào để giải thích chúng, với rất ít sự đồng ý.<ref name="Clanchy31">Clanchy ''England and its Rulers'' pp. 31–35</ref> Lý thuyết hay huyền thoại về "ách Norman" phát sinh vào thế kỷ 17,<ref name="Debate6">Chibnall ''Debate'' p. 6</ref> ý tưởng rằng xã hội Anglo-Saxon đã tự do và bình đẳng hơn xã hội xuất hiện sau cuộc chinh phạt.<ref name="Debate38">Chibnall ''Debate'' p. 38</ref>Lý thuyết này nợ nhiều hơn thời kỳ mà nó được phát triển hơn là sự thật lịch sử, nhưng nó vẫn tiếp tục được sử dụng cho đến ngày nay trong cả tư tưởng chính trị và phổ biến.<ref name="Huscroft318">Huscroft ''Norman Conquest'' pp. 318–319</ref>

Trong thế kỷ 20 và 21, các nhà sử học ít tập trung vào sự đúng hay sai của cuộc chinh phạt, thay vào đó tập trung vào các tác động của cuộc xâm lược. Một số, như [[Richard Southern]], đã coi cuộc chinh phục là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử.<ref name="Clanchy31" /> Southern tuyên bố rằng "không có quốc gia nào ở châu Âu, giữa sự trỗi dậy của các vương quốc man rợ và thế kỷ 20, đã trải qua một sự thay đổi triệt để trong một thời gian ngắn như nước Anh trải qua sau năm 1066".<ref name="QClanchy32">Quoted in Clanchy ''England and its Rulers'' p. 32</ref> Các nhà sử học khác, như H. G. Richardson và G. O. Sayles, tin rằng sự chuyển đổi ít triệt để hơn.<ref name="Clanchy31" /> In more general terms, Singman has called the conquest "the last echo of the national migrations that characterized the early Middle Ages".<ref name="Singmanxv">Singman ''Daily Life'' p. xv</ref> Cuộc tranh luận về tác động của cuộc chinh phục phụ thuộc vào cách thay đổi sau năm 1066. Nếu Anh của Anglo-Saxon đã phát triển trước cuộc xâm lược, với sự ra đời của [[chế độ phong kiến]], lâu đài hoặc những thay đổi khác trong xã hội, thì cuộc chinh phạt, trong khi quan trọng, không đại diện cho cải cách triệt để. Nhưng sự thay đổi là rất lớn nếu được đo bằng cách loại bỏ giới quý tộc Anh hoặc mất tiếng Anh cổ như một ngôn ngữ văn học. Các cuộc tranh luận dân tộc đã được đưa ra từ cả hai phía của cuộc tranh luận, với người Norman là những kẻ bắt bớ người Anh hoặc những người giải cứu đất nước từ một quý tộc Anglo-Saxon suy đồi.<ref name="Clanchy31" />

==Ghi chú==
{{notelist|60em}}

==Tham khảo==
{{refbegin|30em}}
* {{chú thích sách|author=Bates, David |authorlink=David Bates (historian) |title=Normandy Before 1066 |publisher=Longman |location=London |year=1982 |isbn=0-582-48492-8 }}
* {{chú thích sách|author=Bates, David |authorlink=David Bates (historian) |title=William the Conqueror |publisher=Tempus |location=Stroud, UK |year=2001 |isbn=0-7524-1980-3 }}
* Campbell, J. (1982) ''The Anglo-Saxons'', Oxford: Phaidon, ISBN 0-7148-2149-7
* {{chú thích sách|author=Carpenter, David |authorlink= David Carpenter (historian) |title=The Struggle for Mastery: The Penguin History of Britain 1066–1284 |publisher=Penguin |location= New York|year=2004 |isbn=0-14-014824-8 }}
* {{chú thích sách|author=Chibnall, Marjorie |authorlink= Marjorie Chibnall |title=Anglo-Norman England 1066–1166 |publisher=Basil Blackwell Publishers |location=Oxford |year=1986 |isbn=0-631-15439-6 }}
* {{chú thích sách|author=Crouch, David |title=The Normans: The History of a Dynasty |publisher=Hambledon & London |location=London |year=2007 |isbn=1-85285-595-9 }}
* {{chú thích sách|title= William the Conqueror: The Norman Impact Upon England |last= Douglas|first=David C. |authorlink= David C. Douglas |year=1964 |publisher= University of California Press |location= Berkeley }}
* Florence of Worcester, ''The Chronicle of John of Worcester'', ed. P. McGurk, 3 vols (1995–8), Oxford: Clarendon
* ''The Gesta Normannorum Ducum of William of Jumieges, Orderic Vitalis, and Robert of Torigny'', ed. M. C. Van Houts, 2 vols. (1992–5), Oxford: Oxford University Press
* {{chú thích sách|author= Hallam, Elizabeth M.; Everard, Judith |title=Capetian France 987–1328 |edition=Second|publisher=Longman |location=New York |year=2001 |isbn=0-582-40428-2}}
* {{chú thích sách|author=Higham, Nick |title=The Death of Anglo-Saxon England |publisher=Sutton |location=Stroud |year=2000 |isbn=0-7509-2469-1|unused_data=ocl}}
* {{chú thích sách|author=Huscroft, Richard |title=Ruling England 1042–1217 |publisher=Pearson/Longman |location=London |year=2005 |isbn=0-582-84882-2 }}
* {{chú thích sách|author= Hyland, Ann |authorlink= Ann Hyland |title= The Medieval Warhorse: From Byzantium to the Crusades |publisher= Grange Books |location= London |year= 1994|isbn=1-85627-990-1}}
* {{chú thích sách|author=Kaufman, J. E. and Kaufman, H. W. |title=The Medieval Fortress: Castles, Forts, and Walled Cities of the Middle Ages |publisher=Da Capo Press |location=Cambridge, MA |year=2001|isbn=0-306-81358-0}}
* Orderic Vitalis, ''The Ecclesiastical History of Orderic Vitalis'', ed. [[Marjorie Chibnall]], 6 vols. (1968–80), Oxford: Clarendon, ISBN 0-19-822243-2
* {{chú thích sách |last=Liddiard |first=Robert |year=2005 |title=Castles in Context: Power, Symbolism and Landscape, 1066 to 1500 |publisher=Windgather Press Ltd |location=Macclesfield |isbn=0-9545575-2-2}}
* [[A. L. Rowse|Rowse, A. L.]] (1979) ''The Story of Britain'', London: Treasure, ISBN 0-907407-84-6
* {{chú thích sách|author=Stafford, Pauline|authorlink=Pauline Stafford |title= Unification and Conquest: A Political and Social History of England in the Tenth and Eleventh Centuries |publisher=Edward Arnold |location=London |year=1989 |isbn=0-7131-6532-4 }}
* {{chú thích sách|author=Stafford, Pauline|authorlink=Pauline Stafford}}, "Women and the Norman Conquest," {{chú thích sách|title= Transactions of the Royal Historical Society,}} 6th ser., 4 (1996), 221-250.
* {{chú thích sách|author=Swanton, Michael James (trans.) |title=The Anglo-Saxon Chronicle |publisher=Routledge |location=New York |year=1998 |isbn=0-415-92129-5 }}
* Thomas, Hugh M. (2003) ''The English and the Normans'', Oxford: Oxford University Press
* Thomas, Hugh M. (2003) 'The significance and fate of the native English landowners of 1086', ''English Historical Review'' 118 (2003), pp.&nbsp;303–33
* {{chú thích sách|author=Walker, Ian |title=Harold the Last Anglo-Saxon King |publisher=Wrens Park |location=Gloucestershire |year=2000|isbn=0-905-778-464 }}
* {{chú thích sách|author=Williams, Ann |authorlink= Ann Williams (historian) |title= Æthelred the Unready: The Ill-Counselled King |publisher=Hambledon & London |location=London |year= 2003 |isbn=1-85285-382-4 }}
* {{chú thích sách|author=Williams, Ann |authorlink= Ann Williams (historian) |title=The English and the Norman Conquest |publisher=Boydell Press |location=Ipswich |year=2000 |isbn=0-85115-708-4 }}
{{refend}}<references />
== Liên kết ngoài ==
* [http://www.essentialnormanconquest.com Essential Norman Conquest]
* [http://www.bbc.co.uk/history/british/normans/background_01.shtml Normans – a background to the Conquest]
* [http://www.eyewitnesstohistory.com/bayeux.htm The Invasion of England, 1066]

[[Thể loại:Trung kỳ Trung Cổ]]
[[Thể loại:1066 tại Anh]]
[[Thể loại:Xung đột thập niên 1060]]
{{các chủ đề|Quân sự|Lịch sử|Anh}}