Revision 8051369 of "Thành viên:A/Viết thử" on viwiki{{Infobox military conflict
| conflict = Trận Wagram
| partof = [[Chiến tranh Liên minh thứ năm]]
| image = [[File:Napoleon Wagram.jpg|300px]]
| caption = [[Napoléon Bonaparte|Napoléon]] tại Wagram, họa phẩm của [[Horace Vernet]] ([[Galerie des Batailles]], [[Cung điện Versailles|Versailles]])
| date = 5–6 tháng 7 năm 1809
| place = Tây Bắc [[Viên]], Áo
| result = [[Thắng lợi quyết định]] của quân [[Đế chế thứ nhất|Pháp]],<ref name="rothenberg9">Gunther Erich Rothenberg, ''Napoleon's great adversaries: the Archduke Charles and the Austrian Army, 1792-1814'', trang 9</ref> quân [[Áo]] rút lui về [[Čechy|Böhmen]]. <ref name="alansked2627">Alan Sked, ''Radetzky: Imperial Victor and Military Genius'', các trang 26-27</ref>:
*[[Thỏa ước Znaim]],
*[[Hiệp ước Schönbrunn]],
*[[Liên minh thứ năm]] tan rã.
| combatant1 = {{flag|Đế quốc Áo|name=Áo}}
| combatant2 = {{flagicon|France}} [[Đệ nhất Đế chê Pháp|Pháp]]<br>
*{{flagicon image|State_flag_of_Saxony_before_1815.svg}} [[Vương quốc Sachsen|Sachsen]]
*{{flagicon image|Flag of Bavaria (striped).svg}} [[Vương quốc Bayern|Bayern]]
*{{flagicon|Napoleonic Italy}} [[Lịch sử Ý#Đô hộ nước ngoài (thế kỷ 16 - thế kỷ 19)|Italia]]
| commander1 = [[Đại Công tước Karl, Công tước xứ Teschen|Karl của Áo]]
| commander2 = [[Napoléon I]]
| strength1 = 140,000<ref name="cas">Castle, I. ''Aspern/Wagram (1809)'', Osprey (1990)</ref><br>
| strength2 = 160,000<ref name="cas"/>
| casualties1 = 41,250:<ref name="cas"/><br>
23,750 tử trận hoặc bị thương<br>10,000 mất tích<br>7,500 bị bắt
| casualties2 = 37,500:<ref name="cas"/><br>
27,500 tử trận hoặc bị thương<br> 10,000 mất tich hoặc bị bắt
| campaignbox = {{Campaignbox Fifth Coalition}}
}}
'''Trận Wagram''' diễn ra ngày 6 tháng 7 năm 1809, là một trong những cuộc đụng độ quân sự quan trọng nhất trong chiến tranh Napoleon và kết thúc với thắng lợi quyết định dành cho [[Hoàng đế Pháp|Hoàng đế]] [[Napoléon Bonaparte|Napoléon]] của Pháp cùng với Đồng Minh trước quân đội Áo dưới sự chỉ huy của [[Đại Công tước Karl, Công tước Teschen|Đại Công tước Karl]].<ref>Charles J. Esdaile, ''The French Wars, 1792-1815'', trang 54</ref> Trận đánh quyết định này gần như đánh dấu sự tan rã Liên minh thứ năm mà Áo và Anh dẫn đầu.<ref name="pauljohnson70">Paul Johnson, ''Napoleon'', trang 70</ref>
Năm 1809, phần nhiều quân Pháp rút khỏi Đức để tập trung toàn lực vào cuộc [[chiến tranh Bán đảo|chiến tranh trên Bán đảo Iberia]] chống lại [[Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland|Anh]] và nghĩa binh [[Tây Ban Nha]]. Kết quả là người Áo thấy được điểm yếu này, và họ lên kế hoạch xâm lược Bayern, một trong những chư hầu của Pháp, với mong muốn phục hồi lại uy tín ban đầu của mình sau đã bị đánh mất sau thất bại tại [[trận Austerlitz]] (1805). Sau khi rời khỏi [[bán đảo Iberia]], Napoléon liền đánh bại quân Áo trong một chiến dịch chớp nhoáng và chiếm đóng [[Viên]], kinh đô nước Áo, vào thời điểm bắt đầu tháng 5 năm 1809. Mặc dù liên tiếp thất trận, nhưng quân công Karl đã tập kết các nhòm tàn binh thành một đội quân lớn và rút lui về phía bắc [[sông Donau]]. Điều này cho phép người Áo có thể tiếp tục gây chiến với Pháp, nhưng vào cuối tháng, Napoléon đột ngột thực hiện một loạt lượt công kích, tuy vậy chính Napoléon phải hứng chịu một thất bại chiến thuật trong [[trận Aspern-Essling]].
Napoléon có sáu tuần để chuẩn bị cho cuộc tấn công tiếp theo của mình, ông tập kết lại quân đội tại đảo Lobau trên sông Donau. Binh lính chủ yếu là [[người Pháp]], [[Người Đức|Đức]] và [[Người Ý|Ý]] trong vùng lân cận của Viên. Trận Wagram bắt đầu sau khi Napoléon dẫn đại quân vượt sông Donau trong đêm 4 tháng 5 và đánh thẳng vào 145.000 hùng binh của Áo. Hôm sau (ngày 5 tháng 7), quân Pháp tiến công và đánh tan quân Áo, nhưng cuộc phản công của Sư đoàn Áo dưới quyền tướng [[Joseph Radetzky von Radetz]] thuộc Quân đoàn số 4 trấn giữ làng [[Markgrafneusiedl]] đã giành thắng lợi, trước khi được lệnh rút về các cao điểm để chống giữ. Sau đó, Napoléon cố gắng bọc sườn cánh trái của quân Áo nhưng bị thất bại thảm hại. Ít lâu sau khi mặt trời ló dạng vào ngày 6 tháng 7 năm 1809, Napoleon liền phát động cuộc tấn công lớn vào các cứ điểm của Quân đội Áo. Trận chiến lên tới hồi gay cấn hơn cả khi ông truyền lệnh cho [[Grande Batterie|Đại Khẩu đội pháo]] của mình pháo kích dữ dội vào các đội hình hàng dọc của Áo. Và, trong khi Thống chế [[Louis Nicolas Davout]] đánh bại quân cánh trái Áo còn Thống chế [[André Masséna]] thì đánh tan quân cánh phải Áo, Napoléon I tung một đội hình hàng dọc hùng hậu đánh thốc vào trung quân Áo.<ref>Matthew J. Flynn, Stephen E. Griffin, ''Washington & Napoleon: Leadership in the Age of Revolution'', trang 66</ref> Đến hai giờ chiều, sau khi quân Áo đã chiến đấu ngoan cường, do không được tăng viện nên Đại Công tước Karl phải rút quân.<ref name="heroldtra281">J. Christopher Herold, ''The Age of Napoleon'', trang 281</ref> Tướng Radetzky đã thu nhặt tàn binh của quân cánh trái Áo và thực hiện những hoạt động chặn hậu mạnh mẽ trên đường rút.
Sau khi trận chiến kết, Đại Công tước Karl vẫn chỉ huy một lực lượng lớn binh mã triệt thoái trong trật tự và sẵn sàng tiếp tục cuộc chiến.<ref name="hibbert55"/> Và, thắng lợi khó nhọc cho thấy Đội quân vĩ đại của Napoléon không còn bất bại nữa, tiếp nối trận Baylen tại Tây Ban Nha báo hiệu một sức mạnh mới của các thế lực chống ông, dẫu cho Napoléon vẫn cứ khăng khăng muốn làm bá chủ của toàn châu Âu.<ref name="hibbert55">Christopher Hibbert, ''Waterloo: Napoleon's last campaign'', trang 55</ref><ref name="toddfisher136138">Todd Fisher, Gregory Fremont-Barnes, Bernard Cornwell, ''The Napoleonic Wars: The Rise and Fall of an Empire'', các trang 136-138.</ref>
Trận chiến kéo dài hai ngày này là một cuộc chiến đẫm máu,<ref>William O'Connor Morris, ''Napoleon, warrior and ruler: and the military supremacy of revolutionary France'', trang 248</ref> do pháo binh được sử dụng rộng rãi cả hai bên trên một chiến trường bằng phẳng mà 300.000 người đang ở trên đó. Mặc dù thực tế rằng Napoléon là người đã dành chiến thắng, nhưng chiến thắng này cũng không cho thấy tài nghệ thao lược của ông, mà thay vì đó là sự lệ thuộc của ông vào lực lượng pháo binh và nhân lực - những cái không thể vững tồn mãi mãi và thương vong của Áo chỉ lớn hơn phía Pháp không là bao. Tuy nhiên, thất bại cũng đã đủ nghiêm trọng để phá vỡ tinh thần của người Áo, những người không còn ý chí tiếp tục cuộc chiến nữa. Hòa bình là kết quả của [[Hiệp ước Schönbrunn]], và điều đó có nghĩa là người Áo phải mất 1 trong 6 vùng đất của mình về tay Pháp.
== Tham khảo ==
=== Chú thích ===
{{reflist}}
== Đọc thêm ==
* {{Cite EB1911|wstitle=Wagram}}
* [[David G. Chandler|David Chandler]], ''Napoleon's Marshals'', Weidenfeld & Nicolson, London, 1998, pp 247–251.
* Bowden, Scotty & Tarbox, Charlie. ''Armies on the Danube 1809''. Arlington, Texas: Empire Games Press, 1980.
* Gill, John H. ''1809: Thunder on the Danube''. 3 Volumes, Frontline Books, 2007–2011All content in the above text box is licensed under the Creative Commons Attribution-ShareAlike license Version 4 and was originally sourced from https://vi.wikipedia.org/w/index.php?oldid=8051369.
![]() ![]() This site is not affiliated with or endorsed in any way by the Wikimedia Foundation or any of its affiliates. In fact, we fucking despise them.
|