Difference between revisions 35877 and 35900 on viwikisource

{{Xóa|Lộn chỗ đây không phải là Wikipedia}}
'''Vịnh Xuân Quyền'''
    Vịnh Xuân quyền (詠春拳, Wing Chun, ving tsun, Wing Tsun, Wing Chun kuen, Wingchun-kuen) còn được biết đến dưới tên gọi là Vĩnh Xuân quyền (永春拳), Vịnh Xuân Công Phu (詠春功夫) hay Vịnh Xuân phái (詠春派), là một môn võ thuật có nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm tại tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Bên cạnh thiểu số cho rằng rất có thể môn phái đã có lịch sử không dưới 400 năm, hầu hết đều khẳng định nguyên khởi Vịnh Xuân quyền từ phong trào Phản Thanh phục Minh cách đây chừng 2 thế kỷ. Môn phái đã du nhập đến các quốc gia lân cận và phương Tây trong thời hiện đại, sau khi sự thành đạt của Lý Tiểu Long trên màn ảnh những thập niên 70 đã giúp phát dương quang đại hình ảnh môn phái khắp thế giới, đưa Vịnh Xuân quyền từ chỗ chỉ được truyền dạy âm thầm trong các gia tộc trở thành một trong những phái võ thuật được nhiều người biết đến và say mê luyện tập nhất, với hàng triệu đệ tử và hàng chục hệ phái trên toàn thế giới.
     Lịch sử và tên gọi của môn phái

Cho đến nay, những cứ liệu lịch sử chính xác về quá trình hình thành, phát triển của môn phái vẫn còn chìm trong mây mù của thời gian. Hầu hết thông tin lịch sử môn phái đều được truyền miệng giữa các đời truyền nhân nên có nhiều khác biệt giữa thực tế và giai thoại mang tính truyền thuyết.[1]
Một trong những thuyết phổ biến nhất do Đại tôn sư Vịnh Xuân Diệp Vấn truyền lại là danh xưng môn phái bắt nguồn từ tên của vị tổ sư môn phái là Nghiêm Vịnh Xuân, con gái của Nghiêm Nhị, học trò của Ngũ Mai lão sư thái. Sau đó Nghiêm Vịnh Xuân truyền lại cho chồng là Lương Bác Trù. Lương Bác Trù sau đó phát triển môn võ và đặt tên là Vịnh Xuân Quyền [2].
Nhưng có một điểm hầu hết các thuyết đều thống nhất, đó là thời gian ra đời của môn phái nằm trong khoảng giai đoạn phong trào phản Thanh phục Minh ở Hoa lục, cách ngày nay trên dưới 200 năm, đang phát triển rầm rộ. Chi tiết hơn về niên đại, Vương Thái trong Sổ tay Võ thuật còn viết: "Võ phái Vịnh Xuân ra đời gần 2 thế kỷ, vào năm Gia Khánh đời Thanh (1810), thuộc Nam Phái Thiếu Lâm"[3].
Một số học thuyết về lịch sử môn phái đã nhấn mạnh vai trò sáng tổ của các nhân vật có liên quan đến phong trào khởi nghĩa dưới ngọn cờ khôi phục Minh triều thông qua việc chiết tự tên môn phái. Theo đó, chữ Xuân 春 được hiểu bao gồm 3 chữ Đại (大), Thiên (天) và Nhật (日) (ánh sáng bao la khắp gầm trời) ngầm ý chỉ nhà Minh (明), và chữ Vĩnh (永) với ý nghĩa mãi mãi, hoặc chữ Vịnh (詠) có ý nghĩa ca ngợi.
Một thuyết nữa cho rằng môn phái Vĩnh Xuân bắt nguồn từ một cao tăng của chùa Thiếu Lâm là Chí Thiện. Sau khi chùa bị nhà Thanh đốt phá, ông đã trốn xuống phía nam và ở ẩn trong đoàn Hồng Thuyền. Về sau, ông phát triển một kỹ thuật chiến đấu cận chiến đặc biệt, đặt trọng tâm vào tốc độ, xung lực và mượn lực, gần giống Thái Cực Quyền, vận động theo các vòng xoáy và cuốn, nhưng với biên độ nhỏ hơn rất nhiều để tăng cường tốc độ. Hệ thống kỹ thuật mới này được ông gọi là Vĩnh Xuân, theo tên của tòa Vĩnh Xuân điện trong chùa Thiếu Lâm.
Một thuyết khác lại cho rằng, Vịnh Xuân Quyền bắt nguồn từ một người hát kịch và giỏi võ thuật dưới triều Hoàng Đế Ung Chính (1723-1736) tên là Trương Ngũ, tự Than Thủ Ngũ ở Hồ Nam đến Phật Sơn truyền lại môn võ này và rồi truyền từ Than Thủ Ngũ tới Hoàng Hoa Bảo, Lương Nhị Để và Đại Hoa Diện Cẩm (A Cẩm).
     Đặc điểm

Bàn về hệ thống kỹ thuật của Vịnh Xuân quyền, trên sự quan sát bề nổi của nhiều người, đó là cảm nhận về một hệ thống khá đơn giản với vài ba bài quyền, một bài côn, một bài đao và một bài mộc nhân thung. Thật hiếm có một võ phái nào khác chỉ dựa trên nền tảng một vài bài quyền và bài binh khí như vậy. Tuy nhiên, Vịnh Xuân quyền không nhấn mạnh vào tính hình thức và do đó rất khó khăn để trở thành một hệ thống để biểu diễn. Các bài quyền không phản ánh tính chất quy ước cho các chiêu thức, phân thế cụ thể từng chiêu tấn công hay phòng thủ (chẳng hạn như một số võ phái dạy đòn thế theo kiểu khi đối phương đấm thì ta đỡ thế nào và phản công ra sao), mà là những nguyên lý tấn công và phòng thủ rất cần sự sáng tạo của môn sinh khi ứng dụng thực chiến.
Theo những võ sư Vịnh Xuân lão luyện, yếu lĩnh tự nhiên tính được đề cao hàng đầu, vì vậy những người cố gắng theo đuổi vẻ đe dọa bên ngoài của động tác sẽ không bao giờ phát triển được trong môn võ này. Kỹ thuật các dòng Vịnh Xuân quyền trên thế giới cho thấy tính chất "đại đồng tiểu dị" với những điểm giống nhau là căn bản, bao gồm trong nó những nguyên lý xuyên suốt khi luyện tập các bài quyền; khái niệm "xả kỷ tòng nhân" (quên mình theo người), "thính kình" (nghe lực), "tâm ứng thủ” (khi đầu óc nghĩ đến một đòn đánh là chân tay thực hiện thành công); hệ thống đòn chân không có đá xoay người hay đá bay; hệ thống thủ pháp nhu nhuyễn nhưng nhanh và mạnh như roi quất; tấn pháp kiềm dương mã tự, xước mã (đạp bộ); công phu niêm thủ, niêm cước, trao đổi thân, niêm côn và đao; và các bài luyện tập trên mộc nhân trang.
      Quyền pháp
Hệ thống quyền của môn phái theo truyền thống khá đơn giản với ba bài quyền ứng với trình độ môn sinh từ sơ cấp, trung cấp đến cao cấp gồm: Tiểu Niệm Đầu, Tầm kiều và Tiêu chỉ. Khác với chi phái tại Hồng Kông, tại Quảng Đông bài Tiêu chỉ được dạy trước bài Tầm kiều. Nhiều dòng phái Vịnh Xuân hiện nay có chương trình quyền pháp khá khác biệt, với những bài như Thập nhị thức, hệ thống Ngũ hình quyền, Vĩnh xuân quyền (bài quyền), Khí công quyền (còn gọi là Vịnh xuân khí công, Bối khí quy chi), Hạc hình thủ bộ, Tiểu mai hoa, Đại mai hoa v.v. và có thể không có hai bài Tầm kiều, Tiêu chỉ. Tuy nhiên, những bài tập rời với những nguyên lý, kỹ pháp của Tầm kiều, Tiêu chỉ vẫn được truyền dạy như cơ bản công và cơ bản kỹ thuật trong suốt những năm tháng môn sinh đến với Vịnh Xuân quyền. Theo Đại sư Nam Anh trên quan điểm của Vịnh Xuân quyền Việt Nam, ba bài tập thịnh hành trong hệ Vịnh Xuân quyền Hồng Kông hiện nay (ý nói Tiểu Niệm Đầu, Tầm Kiều và Tiêu chỉ) thực chất không thể coi là các bài quyền, mà là ba giai đoạn trong tiến trình luyện tập của môn sinh.
      Kiều thủ - Kỹ pháp đặc trưng
Hệ thống quyền pháp của Vịnh Xuân quyền xuất phát từ Nam Thiếu Lâm tại tỉnh Phúc Kiến mà kỹ pháp đặc trưng của nó là hệ thống Kiều thủ (phát âm theo âm Quảng Đông là Kìu Sẩu) là đoạn xương cánh tay trước từ cổ tay đến cùi chỏ dịch nghĩa sang tiếng Anh là the Bridge Hand Techniques hay the Bridge Arm Techniques.
Hầu hết các võ phái tại miền Nam Trung Hoa bắt đầu từ bờ phía Nam sông Trường giang (Dương Tử Giang) trở xuống, tức là bao gồm các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Vân Nam, ... đều có nguồn gốc từ ngôi chùa Nam Thiếu Lâm tại tỉnh Phúc Kiến, do vậy các hệ thống kỹ thuật đòn tay đều dùng chữ Kiều và bộ tấn dùng chữ Mã bộ ám chỉ bộ chân di chuyển và gọi tắt là Kiều Mã (Kiều phải chắc chắn, Mã phải vững vàng) do vùng miền Nam Trung Hoa sông nước nhiều và thường đánh nhau trên ghe, thuyền nên phải trụ bộ một chỗ đánh.
Trong Thiếu Lâm Hồng gia thường có câu : Ổn Mã Ngạnh Kiều 穩馬硬橋, Trường Kiều Đại Mã 长橋大馬, Đoản Kiều Tiểu Mã 短橋小馬, tạm dịch là Ngựa Vững Cầu Cứng, Ngựa Lớn Cầu Dài, Ngựa Nhỏ Cầu Ngắn, nghĩa là bộ tấn vững chãi đòn tay rắn chắc, đòn tay dài với bộ tấn rộng thấp, đòn tay ngắn với bộ tấn nhỏ hẹp và cao (Cao Mã).
Về chiến đấu pháp trong Thiếu Lâm Hồng gia lại có câu: Xuyên Kiều Tranh Mã Xích Thân Trửu 穿橋爭馬尺身肘, nghĩa là chủ về lối đánh trụ bộ (một chỗ) cận chiến và nhập nội nhiều hơn, Xuyên Kiều nghĩa là xuyên tay và len tay vượt trên tay đối phương, Tranh Mã nghĩa là phải dùng chân nêm chặt bộ vị (thế tấn) của đối phương, Xích Thân Trửu nghĩa là Thân và Cùi Chỏ (Trửu) phải luôn áp sát đối phương.
 Trong Bạch Mi quyền lại có câu chiến đấu pháp: Hữu Kiều – Kiều thượng quá, Mậu Kiều – tự chế Kiều 有橋 – 橋上過 (过), 瞀橋 – 自製橋 nghĩa là có Kiều - (Hữu Kiều) - (gặp Kiều thủ đối phương bắc cầu) thì phải leo lên cầu mà vào nghĩa là gặp tay địch nhân thì phải dùng tay của mình chặn ở trên mà tiến vào mình đối phương (Kiều thượng quá), nếu không có Kiều rõ ràng (2 bên có khoảng cách chưa bên nào ra tay trước) - (Mậu Kiều) - thì phải đưa tay bắc cầu mà vào (tự chế Kiều).
Các bộ quyền của Nam Thiếu Lâm (hay Nam Quyền) thường dùng 2 thế tấn căn bản trong các bài quyền là Tứ Bình Bát Phân (Sei Ping Baat Fahn 四平八分) còn gọi là Tứ Bình Mã (Sei Ping Ma 四平馬) tức là Trung Bình Tấn, và thế tấn thứ hai là Nhị Tự Kiềm Dương Mã (Yee Gee Kim Yeung Ma – Yih Jih Kìhm Yèuhng Máh 二字鈐羊馬 – 二字鈐陽馬) gồm Đại Kiềm Dương Mã 大鈐羊馬 và Tiểu Kiềm Dương Mã 小鈐羊馬.
Trong Nam Quyền (Hồng Gia quyền, Bạch Mi quyền, Vịnh Xuân quyền, Bạch Hạc quyền) thường dùng chữ Kiều Mã 橋馬 để nhấn mạnh tầm quan trọng của Kiều Thủ và Mã Bộ khi giao thủ với đối phương không cho đối phương Niêm Kiều, Triệt Kiều, Phá Mã.
3 bài đầu tiên (Tiểu Niệm Đầu, Tầm Kiều, Tiêu Chỉ) là những giai trình luyện tập các động tác Kiều thủ căn bản để tiến vào bài Mộc Nhân Trang thi triển hiệu quả các động tác Kiều thủ.
     Hệ thống quyền pháp
Về căn bản, Vịnh Xuân có 4 bài quyền cốt lõi
3 bài quyền đầu tiên: Tiểu Niệm Đầu, Tầm Kiều, Tiêu Chỉ (Phiêu Chỉ) là những bước căn bản chuẩn bị cho bài Mộc Nhân Trang.
Bài Tiểu Niệm Đầu đưa ra các thế tay (Kiều thủ) căn bản và khái niệm Trung Tâm Tuyến cho nên cũng được coi là bài tập cho môn sinh phép phòng thủ căn bản.
Bài Tầm Kiều đưa ra các thế tay phản công và các đòn chân (Thoái pháp, Cước pháp) và cách thức di chuyển bộ vị khi giao chiến.
Bài Tiêu Chỉ là kỹ thuật nâng cao và chỉ được truyền dạy cho đệ tử trong môn để làm nền tảng cho bài Mộc Nhân Trang.
Ngoài 4 bài quyền, còn có phép luyện tay nghe lực còn gọi là phép thính kình hay phép du đẩy đối phương tựa như phép Thôi Thủ trong Thái Cực quyền, phương pháp này trong các chi lưu Vịnh Xuân Việt Nam thường gọi là Niêm Thủ nhưng hầu hết các chi lưu Vịnh Xuân trên thế giới và tại Trung Quốc, Hong Kong gọi là Li Thủ. Li Thủ gồm có Đơn Li Thủ và Song Li Thủ.
     Tiểu niệm đầu (Siu Nim Tao 小念頭 )
Khác với các võ phái dựa trên cơ sở căn bản là phải luyện tập vững vàng mã bộ (tấn pháp) và ngoại lực trước khi bắt đầu được truyền dạy những bài quyền đầu tiên, ngay từ những ngày đầu nhập môn Vịnh Xuân quyền, môn đồ đã được truyền dạy Tiểu niệm đầu. Bài quyền này (còn có những tên gọi khác như Tiểu luyện đầu, Tiểu hình ý, Tam bái phật), là căn bản để môn sinh thành thạo những thủ pháp đặc trưng của Vịnh Xuân như than thủ, bàng thủ, cổn thủ, nhật tự xung quyền, khuyên thủ, tán thủ, phục thủ, phách thủ, đấm tam tinh còn gọi là tam xung chùy là thực hiện đấm liên tiếp 3 cái trong một nhịp tấn công v.v. trên một tấn pháp duy nhất từ đầu đến cuối bài là Kiềm dương mã tự, hay nhị tự kiềm dương mã áp dụng ở tư thế chính diện, chính thân, nên còn được gọi là chính thân nhị tự kiềm dương mã. Việc làm quen tấn pháp này với sự kết hợp thủ pháp (các chiêu thức của bài đều xuất phát từ trung tuyến), cho phép môn sinh rút ngắn được thời gian luyện tập bởi ngay từ những ngày đầu đến với môn phái đã được rèn luyện không chỉ mã bộ mà cả các chiêu thức nền tảng.
Lời thiệu (Ca Quyết 歌訣) bài Tiểu niệm đầu theo Diệp Chuẩn và Lương Đĩnh: Cần lưu ý rằng Lương Đĩnh(Lueng Ting)-quyền chưởng môn Lưu phái Vịnh xuân Hồng Công đã có 1 số cải biên về hệ thống quyền pháp của Vịnh Xuân, có thể thấy rõ trong Tiểu Niệm Đầu và Tầm Kiều.
Theo Diệp Chuẩn(tự nhận là Vịnh xuân gốc - Original Wing chun): thức 10, 11 cách diễn quyền không như trong Ca quyết dưới đây
     1. 馬開半步之二字拑羊馬
Mã khai bán bộ chi nhị tự kiềm dương mã
2. 交叉攤手 - 交叉撥手 - 滚手收拳
Giao thoa than thủ - giao thoa bát thủ - cổn thủ thâu quyền
3. 日字沖拳 - 圈手收拳
Nhật tự xung quyền - khuyên thủ thâu quyền (tả - hữu)
4. 攤手 - 半圈手 - 護手 - 伏手
Than thủ - bán khuyên thủ - hộ thủ - phục thủ
5. 側掌 – 正掌 -攤手 -圈手收拳
Trắc chưởng - chánh chưởng - than thủ - khuyên thủ thâu quyền
6. 左右按手 - 後按手 - 前按手
Tả hữu án thủ - hậu án thủ - tiền án thủ
7. 攔手 - 拂手 - 攔手 - 雙枕手 - 標指手
Lan thủ - phất thủ - lan thủ - song chẩm thủ - tiêu chỉ thủ
8. 长橋按手 - 雙提手 - 收拳
Trường kiều án thủ - song đề thủ - thâu quyền
9. 側掌 -橫掌- 收拳
Trắc chưởng - hoành chưởng thâu quyền
10. 攤手 - 枕手 - 括手
Than thủ - chẩm thủ - quát thủ
11. 撈手 - 下路橫掌- 收拳
Lao thủ - hạ lộ hoành chưởng - thâu quyền
12. 膀手 - 攤手 -印掌- 收拳
Bàng thủ - than thủ - ấn chưởng - thâu quyền
13. 脫手 - 连环沖拳 - 收脚
Thoát thủ - liên hoàn xung quyền - thâu cước

Lời thiệu (Ca Quyết 歌訣) bài Tiểu niệm đầu theo Lương Quan Mãn:
Khai thung mã
Song giao tiễn
Bài chỉ
Phật chưởng
Sát thủ
Lạp thủ
Xí chưởng
Than thủ
Bàng thủ
Thoát thủ
      Tầm kiều (Chum Kiu 尋橋 )
Như tên gọi của bài, tầm kiều (tìm cầu) chỉ rõ mục đích bài là tìm cây cầu nối giữa công và thủ, hoặc, tiếp được tay đối phương để từ đó phát hiện sơ hở tấn công. Bài chú trọng luyện chuyển bộ theo bộ pháp xước mã đặc biệt của môn phái với thế tấn trắc thân kiềm dương. Lúc tiến theo thế "đạp bộ" hay còn gọi là "leo núi", chân trước bước kéo chân sau theo, trọng tâm thân thể luôn đặt tại chân sau. Lúc địch thủ tấn công, thế "chuyển mã" dời trung tâm tuyến và dẫn đòn đối thủ vào khoảng không. Đây là lý thuyết "dùng bộ pháp tìm tay (tầm kiều) đối thủ", "dùng eo xoay phá giải đòn công của địch". Bài có ba thế cước: đề thoái, trực đăng thoái và trắc sanh thoái, dùng chân trước để đá, chân vừa đá liền tiến một bước tới để nhập nội liên hoàn đả kích đối thủ. Những đòn tay mới được giới thiệu trong bài là chánh thân vấn thủ, phê tranh, xuyên kiều, trắc thân án thủ, trừu chàng quyền, đàn kiều xung quyền.
Lời thiệu (Ca Quyết 歌訣) bài Tầm kiều theo Diệp Chuẩn:
1. 馬開半步之二字拑羊馬
Mã khai bán bộ chi nhị tự kiềm dương mã
2. 交叉攤手 - 交叉撥手 - 滚手收拳
Giao thoa than thủ - giao thoa bát thủ - cổn thủ thâu quyền
3. 日字沖拳 - 圈手收拳
Nhật tự xung quyền - khuyên thủ thâu quyền
4. 穿橋 - 轉馬及攔手 (左右批爭)
Xuyên kiều - chuyển mã cập lan thủ (tả hữu phê tranh)
5. 雙伏手 - 拍手 - 政掌及護手
Song phục thủ - phách thủ - chánh chưởng cập hộ thủ
6. 轉身攔手 - 交叉攤手 - 及轉身膀手
Chuyển thân lan thủ - giao thoa than thủ - cập chuyển thân bàng thủ
7. 攔手沖拳 - 拂手 - 伏手 - 脫手 - 圈手收拳
Lan thủ xung quyền - phất thủ - phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền
8. 擒攔 - 側身攔手起提腿
Cầm lan - trắc thân lan thủ khởi đề thoái
9. 橫踏步側身膀手 - 及側身交叉攤手三式
Hoành đạp bộ trắc thân bàng thủ - cập trắc thân giao thoa than thủ tam thức
10. 抽撞拳 - 伏手 - 脫手 - 圈手收拳
Trừu chàng quyền - phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền
11. 直登腿 - 踏步低膀手 - 及雙攤手 - 政身雙問手
Trực đăng thoái - đạp bộ đê bàng thủ - cập song than thủ - chánh thân song vấn thủ
12. 雙窒手 - 雙印掌 - 收拳
Song trất thủ - song ấn chưởng - thâu quyền
13. 轉身側撐腿 - 側身按手 - 彈橋沖拳
Chuyển thân trắc sanh thoái - trắc thân án thủ - đàn kiều xung quyền (3 lần)
14. 连环沖拳 - 圈手收式
Liên hoàn xung quyền - khuyên thủ thâu thức

Lời thiệu (Ca Quyết 歌訣) bài Tầm kiều theo Lương Quang Mãn:
Khai thung mã
Song giao tiễn
Bài chỉ
Tầm kiều
Lan kiều thủ
Đơn bàng thủ
Song bàng thủ
Tam không thủ
    Tiêu chỉ (Biu Tze 標指 )
Tiêu chỉ hay Phiêu chỉ (phóng ngón tay) cho thấy tinh thần của bài. Đây là cấp độ tột cùng để chiến đấu tự do, với các ngón tay duỗi thẳng xỉa dẫn đạo linh hoạt thay vì một nắm đấm có tính chất cương mãnh. Bài áp dụng nguyên lý "dĩ công vi thủ" (lấy công làm thủ) và "dĩ đả vi tiêu" (lấy đánh làm hóa giải), "dùng eo phát lực" và "lực quán chỉ". Những kĩ thuật mới là quải tranh, trắc thân vấn thủ, thượng hạ sạn thủ, khuyên cát thủ, thượng hạ canh thủ và bộ pháp khấu bộ. Riêng thế đánh chỏ, chi phái Hồng Kông chỉ có một đòn (chỏ đánh chéo từ trên xuống), sau Diệp Chuẩn thêm hai thế khác: phê trửu (chỏ đánh ngang) và cập chửu (chỏ đánh chéo từ dưới lên) bổ sung từ chi phái Quảng Đông, cho bài một sắc thái đặc biệt linh hoạt.
Lời thiệu (Ca Quyết 歌訣) bài Tiêu chỉ theo Diệp Chuẩn:

1. 馬開半步之二字拑羊馬
Mã khai bán bộ chi nhị tự kiềm dương mã
2. 交叉攤手 - 交叉撥手 - 滚手收拳
Giao thoa than thủ - giao thoa bát thủ - cổn thủ thâu quyền
3. 日字沖拳(標指手) - 圈割手收拳
Nhật tự xung quyền (tiêu chỉ thủ) - khuyên cát thủ thâu quyền
4. 轉身枴爭 (三式) - 標指手收拳
Chuyển thân quải tranh (tam thức) - tiêu chỉ thủ thâu quyền
5. 口步 - 轉身枴爭 - 標指手 - 上路鏟手
Khẩu bộ - chuyển thân quải tranh - tiêu chỉ thủ - thượng lộ sạn thủ
6. 拂手 - 伏手 - 脫手 - 圈手收拳
Phất thủ - phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền
7. 轉身枴爭 - 標指手 - 下路鏟手
Chuyển thân quải tranh - tiêu chỉ thủ - hạ lộ sạn thủ
8. 拂手 - 伏手 - 脫手 - 圈手收拳
Phất thủ - phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền
9. 轉身上下耕手 (三式) - 伏手 - 脫手 - 圈手收拳
Chuyển thân thượng hạ canh thủ (tam thức) - phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền (tả - hữu)
10. 側身問手(三式) - 枕手 - 轉身伏手 - 脫手 - 圈手收拳
Trắc thân vấn thủ (tam thức) - chẩm thủ - chuyển thân phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền (tả - hữu)
11. 標指手 (四式) - 轉身上路鏟手 - 拂手 - 伏手 - 脫手 - 圈手收拳
Tiêu chỉ thủ (tứ thức) - chuyển thân thượng lộ sạn thủ - phất thủ - phục thủ - thoát thủ - khuyên thủ thâu quyền (tả - hữu)
12. 擒拿手 - 抽撞拳 - 印掌收拳
Cầm nã thủ - trừu chàng quyền - ấn chưởng thâu quyền
13. 三掬弓大迥還手(三式)
Tam cúc cung đại huýnh hoàn thủ (tam thức)
14. 连环沖拳 - 圈手收拳
Liên hoàn xung quyền - khuyên thủ thâu quyền

Lời thiệu (Ca Quyết 歌訣) bài Tiêu chỉ theo Lương Quang Mãn:
Khai thung mã
Song giao tiễn
Bài chỉ
Cập trửu
Quải trửu
Phê trửu
Nhị đồng thủ
Dương thủ
Tháp chùy
Bái Phật
     Mộc Nhân Trang Quyền Pháp (Muk Yan Chon Kuen Faat 木人桩 拳 法)
Ở Việt Nam, đa số các chi lưu Vịnh Xuân đều dịch tên bài quyền này là Mộc Nhân Thung (木人舂). Thật ra tên gọi đúng phải là Mộc Nhân Trang (木人桩), phát âm theo tiếng Quảng Đông là Mụk Yàn Chón, Trang có nghĩa là bày ra, sắp xếp ra mà ý nghĩa của Mộc Nhân là bày sắp ra các Chi (tay chân) trên dưới để tiện cho việc luyện tập, trong khi Thung có nghĩa là cọc gỗ hay trụ gỗ được chôn xuống đất.

Mộc Nhân Thung (木人舂) cũng có tác dụng như Mộc Nhân Trang (木人桩) dùng để luyện tập quyền cước (các món binh khí của tay chân mà võ thuật Trung Hoa gọi là các Thủ Hình), nhưng Mộc Nhân Thung thì không có các phần tay chân (Chi) lắp vào mà đó chỉ là các trụ gỗ chôn xuống đất có bó rơm trên 3 vùng Thượng (trên) - Trung (giữa) - Hạ (dưới) được dùng để luyện tay chân va chạm công phá mà các võ phái miền Nam Trung Hoa và các chi lưu Karate tại Okinawa và Nhật Bản xuất phát từ các võ phái miền Nam Trung Hoa rất ưa chuộng trong các bài tập hàng ngày.

Lời thiệu (Ca Quyết 歌訣) bài 116 Mộc Nhân Trang theo Diệp Vấn:

1. 姿势再战 (反擊) (左手)
Tư thế tái chiến (phản kích) (tả thủ)
2. 攀颈手 (右手)
Phan cảnh thủ (hữu thủ)
3. 右膀手 - 左護手
Hữu bàng thủ - tả hộ thủ
4. 右攤手 - 下路左橫掌
Hữu than thủ - hạ lộ tả hoành chưởng
5. 上下耕手
Thượng hạ canh thủ
6. 滚手 (上下耕手逆)
Cổn thủ (thượng hạ canh thủ nghịch)
7. 左攤手 - 下路右橫掌
Tả than thủ - hạ lộ hữu hoành chưởng
8. 上下耕手
Thượng hạ canh thủ
9. 右扣手 - 左托手
Hữu khấu thủ - tả thác thủ
10. 左窒手 - 右印掌
Tả trất thủ - hữu ấn chưởng

11. 姿势再战 (反擊) (右手)
Tư thế tái chiến (phản kích) (hữu thủ)
12. 右窒手 - 左印掌
Hữu trất thủ - tả ấn chưởng

13. 左膀手 - 右護手
Tả bàng thủ - hữu hộ thủ
14. 左攤手 - 下路右橫掌
Tả than thủ - hạ lộ hữu hoành chưởng
15. 上下耕手
Thượng hạ canh thủ
16. 滚手 (上下耕手逆)
Cổn thủ (thượng hạ canh thủ nghịch)
17. 右攤手 - 下路左橫掌
Hữu than thủ - hạ lộ tả hoành chưởng
18. 上下耕手
Thượng hạ canh thủ
19. 左扣手 - 右托手
Tả khấu thủ - hữu thác thủ
20. 右窒手 -下路左橫掌
Hữu trất thủ - hạ lộ tả hoành chưởng
21. 右內身拍手
Hữu nội thân phách thủ
22. 左內身拍手
Tả nội thân phách thủ

23. 右內身拍手
Hữu nội thân phách thủ

24. 左外身拍手
Tả ngoại thân phách thủ
25. 左標指手
Tả tiêu chỉ thủ
26. 左窒手 - 下路右日字沖拳
Tả trất thủ - hạ lộ hữu nhật tự xung quyền
27. 右外身拍手
Hữu ngoại thân phách thủ
28. 右標指手
Hữu tiêu chỉ thủ
29. 右窒手 -下路左日字沖拳
Hữu trất thủ - hạ lộ tả nhật tự xung quyền

30. 雙托手
Song thác thủ

31. 下路右膀手
Hạ lộ hữu bàng thủ
32. 右問手 (中路)
Hữu vấn thủ (trung lộ)
33. 右側撐腿
Hữu trắc sanh thoái

34. 下路左膀手
Hạ lộ tả bàng thủ
35. 左問手 (中路)
Tả vấn thủ (trung lộ)
36. 左側撐腿
Tả trắc sanh thoái

37. 上下耕手
Thượng hạ canh thủ
38. 右扣手 - 左托手
Hữu khấu thủ - tả thác thủ
39. 左窒手 - 右印掌
Tả trất thủ - hữu ấn chưởng
40. 雙攤手
Song than thủ (gạt tay từ ngoài vào)
41. 圈手 (勾鐮手)
Quyển thủ (câu liêm thủ)
42. 下路雙橫掌
Hạ lộ song hoành chưởng
43. 雙攤手
Song than thủ
44. 上路雙橫掌
Thượng lộ song hoành chưởng
45. 雙窒手
Song trất thủ

46. 右扣手 - 上左耕手
Hữu khấu thủ - thượng tả canh thủ
47. 左扣手 - 上右耕手
Tả khấu thủ - thượng hữu canh thủ
48. 右扣手 - 上左耕手
Hữu khấu thủ - thượng tả canh thủ
49. 左窒手 - 右印掌
Tả trất thủ - hữu ấn chưởng

50. 右膀手
Hữu bàng thủ
51. 側身右直登腿 - 右攤手 -中路左橫掌
Trắc thân hữu trực đăng thoái - hữu than thủ - trung lộ tả hoành chưởng

52. 上下耕手
Thượng hạ canh thủ

53. 左扣手 - 上右耕手
Tả khấu thủ - thượng hữu canh thủ
54. 右扣手 - 上左耕手
Hữu khấu thủ - thượng tả canh thủ

55. 左扣手 - 上右耕手
Tả khấu thủ - thượng hữu canh thủ
56. 政身右扣手 -下路左橫掌
Chính thân hữu khấu thủ - hạ lộ tả hoành chưởng

57. 左膀手
Tả bàng thủ
58. 側身左直登腿 - 左攤手 -中路右橫掌
Trắc thân tả trực đăng thoái - tả than thủ - trung lộ hữu hoành chưởng
59. 上下耕手
Thượng hạ canh thủ
60. 右扣手 - 左托手
Hữu khấu thủ - tả thác thủ
61. 左窒手 - 右印掌
Tả trất thủ - hữu ấn chưởng
62. 先右伏手 - 後右拂手
Tiên hữu phục thủ - hậu hữu phất thủ

63. 先右伏手 - 後右拂手
Tiên hữu phục thủ - hậu hữu phất thủ
64. 先右伏手 - 後右拂手
Tiên hữu phục thủ - hậu hữu phất thủ

65. 右扣手 -下路左橫掌
Hữu khấu thủ - hạ lộ tả hoành chưởng
66. 滚手 (上下耕手逆)
Cổn thủ (thượng hạ canh thủ nghịch)

67. 政身抱排掌 (上右手 - 下左手)
Chính thân bão bài chưởng (thượng hữu thủ - hạ tả thủ)
68. 左膀手
Tả bàng thủ
69...
70...
117. 雙托手 - 收脚回式
Song thác thủ - thâu cước hồi thức
Nếu Mộc Nhân Thung là đặc điểm của võ thuật Trung Hoa tập luyện đánh tay trên các trụ gỗ (Thung) như các trường phái Karate tại Okinawa, thì Mộc Nhân Trang pháp (bài tập với những kỹ pháp đánh trên Mộc Nhân) lại là đặc điểm riêng của một số ít ỏi dòng phái trên lãnh thổ Trung Hoa. Huyền thoại về điều kiện phải chiến thắng 108 mộc nhân để chứng tích võ công trước khi được hạ sơn của các cao tăng Thiếu Lâm tự rất nổi tiếng, các nhà nghiên cứu vẫn không tìm thấy dấu tích của mộc nhân tại Tung Sơn, và mộc nhân trang pháp vẫn là đặc thù của các võ phái Thái Lý Phật, Hắc Hổ Môn ở Hồng Kông, và Vịnh Xuân quyền[5].
Mộc nhân có cấu tạo đơn giản, là một khúc gỗ đường kính khoảng 30cm-40cm, dài cỡ 1m60 tùy theo chiều cao mỗi người nếu đặt trên giá đỡ (loại sống, động), nếu chôn xuống đất hoặc đặt trên nền đất (loại chết, bất động) thì phần thân ở trên mặt đất của mộc nhân có độ dài tương đương cao độ của người luyện tập. Trên thân có bốn khúc gỗ nhỏ hơn: hai cánh tay trên nằm ngang vai người tập và đưa chéo sang hai bên, cánh tay dưới nằm trên trung tuyến và đưa thẳng ngang bụng. Mộc nhân có một chân bẻ cong, thiết kế nằm ở giữa và ngang đầu gối. Thông thường loại sống được sử dụng nhiều hơn do tính linh hoạt khi chịu lực. Thân của loại sống được treo lên bởi hai thanh ván xỏ xuyên qua trên và dưới hai bên hông của thân. Hai miếng ván đó chịu lực trên hai cây cột trụ chôn hoặc đặt vững trãi trên nền đất hai bên mộc nhân. Khi thân mộc nhân bị đánh, hai miếng ván nêu trên kéo thân trở lại phía trước sau khi thân dội về phía sau và vì vậy, tạo cho thân tính đàn hồi. Một số chi phái Vịnh Xuân, như Triệt Quyền Đạo, đã cải cách mộc nhân theo hướng không sử dụng hai miếng ván và cột trụ nhằm tạo tính động cho mộc nhân mà, thay vào đó, sử dụng lò xo dưới chân.
Bài Mộc Nhân Trang có thể coi là một bài quyền cao cấp của môn phái, chỉ dạy cho các học trò cao cấp. Theo từng dòng phái, các bài Mộc Nhân Thung cũng có ít nhiều sự khác biệt. Bài của các dòng Vịnh Xuân Quyền Việt Nam bao gồm 108 động tác, ngoài số ít các động tác chính thân tách bài thành 5 phần, bài bao gồm phần lớn các động tác lặp lại ở hai bên, có 6 thế cước và 8 thế đánh gối. Bài của chi phái Quảng Đông chia thành 2 phần với hơn 160 động tác, có 5 thế đá (Câu cước, Dịch đăng cước, Nguyệt ảnh cước, Hổ vĩ cước) và 1 thế đánh gối (Tất chàng phúc). Bài của chi phái Diệp Vấn tại Hồng Kông chia thành 10 đoạn với 140 động tác khi được truyền dạy ở Phật Sơn, nhưng khi tới Hồng Kông ông rút xuống còn 108 động tác sau khi bỏ đi một số chiêu thức quá sát thủ, vài năm sau ông lại nâng lên thành 116 động tác chia thành 8 đoạn. Bài có bao gồm tám thế cước (Trực đăng thoái, Hoành sanh thoái, Tà đà tất thoái, Thập tự thoái, Tiệt tảo thoái, Khấu đàn thoái, Tà đà cước thoái, Hoành đà tất thoái). Hiện nay bài Mộc Nhân Trang của Diệp Vấn, tuy hết sức phổ biến trong nhiều chi phái Vịnh Xuân trên toàn thế giới, đã hầu như thất truyền những tuyệt chiêu mà tổ sư đã không truyền dạy.
Nếu mộc nhân là dụng cụ hỗ trợ để môn sinh tập lực, phát kình, tháo lỏng, du đẩy và phá du đẩy thì bài Mộc Nhân Thung giúp môn sinh thực hiện toàn diện chiến lược công thủ phản biến. Trừ một số ít đòn thế áp dụng khi đứng tấn chính thân kiềm dương, hầu hết các chiêu thức của bài được triển khai khi môn sinh chiếm giữ trung tuyến, dùng "tam giác bộ" (bộ pháp tam giác với đỉnh là vị trí của người tập lúc khởi chiêu) di chuyển từ nội môn (phần thân nằm trong hai cánh tay trên) qua ngoại môn (phần ngoài hai cánh tay), tưởng tượng tránh đòn của đối thủ, sau đó tấn công vào bên hông mộc nhân.
Khí công quyền (Vịnh Xuân Việt Nam)
Bài Khí công quyền, một số dòng Vĩnh Xuân gọi là Bối khí quy chi sử dụng các nguyên lý và chiêu thức như Ngũ cầm hí của danh y Hoa Đà, chủ luyện khí và lực, rất thích hợp cho dưỡng sinh. Thủ pháp của bài được luyện trên bộ pháp kiềm dương tấn. Bài phân chia rõ rệt thành nhiều phần bằng việc chuyển vị từ chính thân kiềm dương sang trắc thân kiềm dương bên phải và bên trái.
[sửa]Cước pháp

Hệ thống đòn tay Vĩnh Xuân được đánh giá là vô cùng linh hoạt và hữu hiệu, nhưng nhiều người không biết rằng môn phái còn có những đòn chân rất độc đáo. Có ý kiến cho rằng cước pháp của Vịnh Xuân quyền chỉ có 16 đòn (chính xác là 8 đòn cho mỗi bên chân), có lẽ dựa trên hệ thống luyện tập(thấy rõ trong bài tập Mộc nhân) của dòng Vịnh Xuân Diệp Vấn tại Hồng Kông . Thực tế cước pháp Vịnh Xuân phong phú hơn nhiều, bao gồm cả những chiêu thức dùng chân ở tầm cực thấp với những đòn chấn khớp có uy lực khủng khiếp và những chiêu thức đánh vào sự thăng bằng của đối thủ. Tuy nhiên, do nguyên tắc "túc bất ly địa" (chân không rời khỏi mặt đất) của Vịnh Xuân, cước pháp Vịnh Xuân chỉ truyền dạy cho học trò cao cấp sau khi môn sinh đã luyện tập tốt sự thăng bằng và có sự phối hợp với thủ pháp nhuần nhuyễn. Vịnh Xuân quyền truyền thống không đề cao những đòn đá xoay người, đá bay và cũng rất hiếm hoi những đòn đá quá tầm trung đẳng[6]. Công phu cước là niêm cước, một hình thức tập luyện dính chân tương tự niêm thủ.
Vịnh xuân Hồng Kông thường dùng nhiều Triệt cước trong thực chiến cũng như luyện Niêm cước, ngoài ra có thể kể thêm: Bàng cước, Than cước, Trất cước, Trảm cước, Đỉnh cước, Hoành cước, Thúc gối... Tảo cước ít dùng để quét thấp như các võ phái cổ truyền Việt Nam. Trong Niêm thủ khi 'biến chiêu' tấn công, Lương Đĩnh có chỉ dạy 1 thế cước cao chân của Vịnh Xuân Hồng Công là đá thốc gót thẳng lên cổ đối phương, nó như Đỉnh cước nhưng dùng đá cao.
Tham khảo

Vịnh Xuân quyền - truyền thuyết và thực tại, Nguyễn Quí Jacques và Dufresne Thomas, đăng trên Sổ tay Võ thuật số 47, tháng 5 năm 1997.
Mộc nhân thung - phương pháp luyện tập đặc biệt của Vịnh Xuân quyền, Sổ tay Võ thuật, số 52, tháng 4 năm 1998.
Cước pháp Vịnh Xuân quyền, Sổ tay Võ thuật, số 52, tháng 4 năm 1998.
Vịnh Xuân Tiêu Chỉ quyền, Sổ tay Võ thuật, số 52, tháng 4 năm 1998.
Phật gia Vịnh Xuân Quyền (Vietnam Buddha Wing Chun Kungfu) - Tác giả: Nguyễn Mạnh Nhâm - Nguyễn Duy Thức NXB Văn Hóa Thông Tin
Robert Chu, René Ritchie, Y. Wu, Complete Wing Chun (the definitive guide to Wing Chun's history and tranditions (tiếng Anh, tài liệu dạng e-book có trên mạng Internet).